Trang chủDanh nhân – nhân vật lịch sửĐại Vương Đặng Công Oanh (231 TCN - 151 TCN)

Đại Vương Đặng Công Oanh (231 TCN - 151 TCN)

Thứ Sáu, 26/07/2013

Ngài ở đó đến 15 tuổi thì lầu thông kinh sử, kẻ sỹ bấy giờ phần nhiều thán phục, đều khen là thần đồng. Năm ngài 17 tuổi thì bố mẹ đều mất. Khi đã yên phần chôn cất, hương khói thờ cúng theo lễ nghi, Ngài một lòng để tâm vào việc dạy dỗ sỹ dân, lúc rỗi rãi thì dạo chơi ngắm phong cảnh sông núi.

Ngài Đặng Công Oanh sinh ngày 24 tháng 6 năm 231 TCN ở xã An Thái, tổng Cần Xá, huyện Yên Sơn, tỉnh Sơn Tây, ngày nay là thôn Yên Thái, xã Đông Yên, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây.

Ngài là con cụ Đặng Oai (Uy) và cụ bà Nguyễn Thị Thắng (người cùng bản quận). Hai cụ đều là con nhà trâm anh, thi lễ. Cụ ông làm nghề dạy học, lại tinh y thuật, vui làm điều thiện, cứu giúp dân nghèo. Cả hai cụ ăn ở rất đầy đặn, nhưng tuổi đã cao nhưng vẫn muộn mằn đường con cái. Sau đó vào một đêm cụ bà nằm mộng thấy vì sao băng rơi vào bụng, từ đấy cụ mang thai.

Ngày 24 tháng 5 năm 231 TCN, cụ sinh được một người con trai, mặt mũi khôi ngô, đặt tên là Oanh. Mới 3 tuổi đã biết nói, nghe lời là nói được, nghe tiếng biết điều lễ nghĩa. Năm lên 7 tuổi Ngài đến làng Thanh Tương, thành Luy Lâu, phủ Thuận An, đạo Bắc Ninh (xưa gọi là quận Vũ Ninh) theo học Sỹ Nhiếp tiên sinh. Khi gặp Sỹ Nhiếp tiên sinh Ngài vui mừng ứng khẩu:

Thẳng đến Luy Lâu tìm dấu Tiên

Sau đến Hoà Phong học kinh Phật.

Ngài ở đó đến 15 tuổi thì lầu thông kinh sử, kẻ sỹ bấy giờ phần nhiều thán phục, đều khen là thần đồng. Năm ngài 17 tuổi thì bố mẹ đều mất. Khi đã yên phần chôn cất, hương khói thờ cúng theo lễ nghi, Ngài một lòng để tâm vào việc dạy dỗ sỹ dân, lúc rỗi rãi thì dạo chơi ngắm phong cảnh sông núi.

Một hôm, Ngài đến vùng An Lộng (An Thái) làng Cấn Xã, huyện Ninh Sơn, phủ Quốc Oai, đạo Sơn Tây, nhận thấy dân nơi đây chất phác, ít học, ít hiểu biết lễ nghĩa nhưng dân chúng no đủ, Ngài cho đây là đất được mạch sông núi uốn quanh, rồng hổ ôm ấp, núi không cao mà thanh nhã, nước không sâu mà trong xanh, mạch suối chạy dài; vì vậy Ngài cùng với nhân dân dựng nhà học đường, dạy người, dạy chữ, nhân dân rất mến mộ tài đức của Ngài.

Vào thời cuối vua Hùng thứ 18 - chi Hùng Duệ Vương (408-258 TCN) tù trưởng ở cả 7 quận Cửu Chân, Châu Nhai, Thiệm Nhĩ, Thương Ngô, Quảng Tín, Phiên Ngung, Mê Linh đều nổi lên làm loạn, xao động dân chúng. Nhà Vua nghe tin bèn hỏi đình thần xem ai có thể trù định được việc đó?

Khi ấy có đình thần tâu rằng: “Uy đức của Bệ hạ lan khắp bờ cõi, lại được trời phù hộ, giáng xuống nhiều bậc anh tài như Oanh công học vấn uyên bác, thiên văn địa lý tinh thông, trí tuệ hơn người, giỏi giang võ nghệ, nổi tiếng một vùng”. Nhà vua nghe xong cho vời đến, trao cho quan tước rồi sai đi đánh giặc dẹp loạn.

Vâng lệnh, ngay ngày hôm đó Ngài tuyển chọn gia thần, sĩ tử được hơn 400 người rồi ban hịch đi các quận, sau đó số người đầu quân lên đến hàng vạn người, lập tức kéo quân đến quận Cửu Chân mật phục, vây hãm, kêu gọi lấy tín nghĩa dụ địch, lấy phúc hoạ  bầy tỏ. Quân địch nghe ra cảm ngộ, bỏ giáp quy hàng, thế là cả 7 quận đều dẹp yên.

Ngài dẫn quân chiến thắng trở về bái yết triều đình, nhà Vua mừng rỡ mở tiệc chiêu đãi, gia phong tướng sĩ theo các thứ bậc khác nhau, ban cho Ngài thực ấp ở Quốc Oai 50 mẫu ruộng và vàng. Ngài bái tạ trở về nhậm sở và ngẫu hứng thơ rằng:

  Tự cố đế vương muôn triệu dân

 Nên công ắt phải vững tinh thần.

  Truyện này chẳng xét chân hay ảo.

   Hồi tưởng nên non Phật ấy chân.

Đến ngày trong nước vô sự, thiên hạ thái bình, Ngài trở về nhà họ Đường ở An Thái dạy học và khuyên bảo nhân dân an cư lạc nghiệp. Mọi người đều bái tạ và xin: Khi Ngài trở về trời sẽ lấy nhà họ Đường làm nơi thờ cúng. Ngài bằng lòng và cho dân làng 10 hối vàng ròng để sau này sửa sang.

Khi tuổi đã bát tuần (tuổi 80), một hôm Ngài trở về Châu phủ, ngồi trong phủ đường bỗng nổi lên vầng hào quang đỏ rực, vầng mây vàng từ trời cao hạ xuống phủ đường chẳng khác nào những dải lụa nâng Ngài bay lên trong cơn gió giông đưa tới đỉnh núi Sài Sơn (chùa Thầy) thì không thấy nữa. Ngài đã bay về trời, đó là ngày 4 tháng giêng.

Biết tin, nhà Vua gia phong Thượng Đẳng Thần – Oanh công oai linh quốc thắng Đại vương và Nhất Vị Đại vương. Ban cho dân trại An Thái lập miếu thờ phụng.

Từ ngày ấy, miếu thờ Ngài được lễ rước, lễ tế trọng thể hàng năm vào ngày sinh và ngày hoá. Miếu thờ rất linh ứng, dân làng cầu mưa được mưa, cầu mùa màng bội thu là bội thu....Tương truyền về sự linh ứng của Ngài trong nhân dân ngày càng lan tỏa, nhiều người biết đến.

Một lần, Vua Lê Đại Hành đích thân làm tướng dẫn gần một vạn tướng sĩ ra trận, kéo đến huyện Ninh Sơn gặp đường núi, trời lại tối liền cho quân nghỉ đêm tại đó, gần miếu thờ tại trại An Thái. Biết tin miếu thờ nơi đây linh ứng, vua Lê Đại Hành đích thân làm chủ lễ cầu khẩn thần linh phù hộ, đánh thắng giặc Tống, trở về bái tạ và ban sắc phong.

Ngay hôm sau nhà Vua đem quân xuất chiến, quân Tống đại bại, các tướng Khâm Tộ, Triệu Phụng Huân đều bị chết tại ải Chi Lăng, các tướng Quách Quân Biện, Tôn Toàn Hưng, Lưu Trừng, Giả Thực, Vương Soạn....tên thì bị thương, tên thì chạy thoát về nước. Trận Bạch Đằng giang năm 981 Lê Đại Hành đã giết chết tướng giặc nhà Tống Hầu – Nhân Bảo.

Cuộc kháng chiến chống quân Tống của quân dân nhà nước Đại Cồ Việt toàn thắng.

Vua ban sắc phong thần linh miếu An Thái: “Oanh Công Tế Thế - Hộ quốc – Dương vũ - Dục Thánh - Bảo Cảnh - Hiền Từ - Thông Minh - Duệ Trí – Hùng Lược – Dũng Quyết – Anh Uy – Linh Cảm - Diệu Thống – Hùng Kiệt Đại Vương”

Đến đời vua Trần Thái Tông, giặc Nguyên Mông xâm lược kinh thành bị vây hãm, khi ra trận Trần Quốc Tuấn đích thân đến miếu An Thái cầu thần linh vương phù hộ và đã đánh thắng giặc, bắt được Ô Mã Nhi. Vua Thái Tông ban sắc là: “Nhất vị linh ứng – Anh Triết - Hiển Hựu - Trợ Thuận Đại Vương”.

Đến thời Lê Thái Tổ khởi nghĩa cũng đến miếu xin thần hộ mệnh, lập tức đánh thắng giặc Minh, giết chết Liễu Thăng. Vua phong mĩ tự là: “Nhất vị Đại Vương - Phổ tể - Cương nghị - Anh Linh” và ban sắc, vàng bạc để dân trại An Thái trùng tu miếu thờ.

Tương truyền, ngày nay Đặng Công Oánh Đại Vương còn được phong Thành Hoàng ở làng Tháp Dương – Trung Kênh - Bắc Ninh. Nơi đây còn 13 sắc phong của các triều Vua.

Đầu năm 2006, miếu thờ An Thái (Đình làng An Thái) đã nhận được bằng di tích lịch sử của Nhà nước ta ban tặng.

Đặng Tộc Việt Nam

 

 

 

Danh sách mới hơn