Trang chủDanh nhân – nhân vật lịch sửĐặng Hữu Cán - một danh nhân thời Tây Sơn

Đặng Hữu Cán - một danh nhân thời Tây Sơn

Thứ Ba, 23/07/2013

Trong hàng ngũ các danh tướng văn, võ nhà Tây Sơn thường được nhắc đến có 4 người mang họ Đặng là Đặng Văn Long, Đặng Tiến Đông, Đặng Xuân Bảo, Đặng Xuân Phong. Ngoài ra còn có một người nữa cũng có công đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp của Nhà Tây Sơn đó là Đô đốc Đặng Hữu Cán.

Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn (1771-1802) của "Tây Sơn tam kiệt", lập nên nhà Tây Sơn (1788-1802) mà linh hồn là người anh hùng áo vải kiệt xuất Quang Trung-Nguyễn Huệ tuy chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn song đã viết nên một trong những trang sử hào hùng, chói lọi bậc nhất của dân tộc Việt Nam. Chỉ trong vòng thời gian chưa đầy vài chục năm Tây Sơn đã xoá xong nạn Trịnh Nguyễn phân tranh, chia cắt đất nước thành Đàng Trong - Đàng Ngoài suốt trên 2 thế kỷ; tiêu diệt, đánh đuổi hơn 2 vạn quân Xiêm và 29 vạn quân Thanh ra khỏi bờ cõi, đập tan mưu đồ xâm lược của bọn cướp nước và manh tâm "cõng rắn cắn gà nhà" của lũ bán nước, bảo vệ nền độc lập dân tộc, bước đầu lập lại nền thống nhất quốc gia. Để làm nên những kỳ tích đó, bên cạnh sự chỉ huy xuất sắc của thiên tài quân sự Nguyễn Huệ còn có sự ủng hộ rộng rãi của dân chúng từ già đến trẻ, từ miền ngược đến miền xuôi; đặc biệt phải kể đến đội ngũ đông đảo các tướng lĩnh xuất sắc cả nam và nữ tập hợp dưới "ngọn cờ đào" của "Người anh hùng áo vải". Trong hàng ngũ các danh tướng văn, võ nhà Tây Sơn thường được nhắc đến có 4 người mang họ Đặng là Đặng Văn Long, Đặng Tiến Đông, Đặng Xuân Bảo, Đặng Xuân Phong. Ngoài ra còn có một người nữa cũng có công đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp của Nhà Tây Sơn đó là Đô đốc Đặng Hữu Cán(1). Nhân kỷ niệm 211 năm ngày mất của cụ Đặng Hữu Cán (25/5/1802 - 25/5/2013 Al), ngoài Cuốn gia phả họ Đặng Hữu đại tôn Chi Phan (Thạch Tiến) đề ngày 20 tháng Giêng năm Thành Thái thứ 8 (1896), một số khảo sát, nghiên cứu của các nhà chuyên môn trên cơ sở các di tích lịch sử còn lưu lại (Thái Kim Đỉnh-Nhà nghiên cứu văn hoá, Đặng Văn Bài-Cục trưởng Cục Di sản văn Hoá, Bộ VH-TT) và Bằng công nhận Di tích lịch sử văn hoá Nhà thờ Đặng Hữu Cán của UBND Tỉnh Hà Tĩnh (QĐ số 1973/QĐ-UBND, ngày 14/6/2006), tôi xin giới thiệu thêm một bài viết đáng lưu ý của tác giả Trần Xuân Cảnh về "Đền thờ Đặng Hữu Cán" được in trong cuốn "Lưu niệm danh nhân thời Tây Sơn" của Bảo tàng Quang Trung, năm 2012 để làm nén Tâm nhang của hậu duệ kính dâng lên Ngài nhân dịp giỗ lần thứ 211 vào ngày 2/7/2013 (tức ngày 25/5 ÂL).

"Đặng Hữu Cán, tên huý Đặng Hữu Thoan, sinh ngày 25 tháng 4 năm Mậu Ngọ 1738 (ông Tổ thứ 4, theo Gia phả dòng họ Đặng Hữu Chi Phan - Thạch Tiến, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh(2)) là con trai trưởng của Đặng Hữu Diệm, người có chí hướng lớn đấu tranh dựng giang sơn xã tắc, chiêu dân lập ấp, nên khi về già được chúa Nguyễn phong 3 chữ:"Thụy Tranh Kỳ". Mẹ là bà Nguyễn Thị Nhị, một người phụ nữ nết na đoan trang của vùng đất Kinh Bắc, tần tảo nuôi con học tập nên người, giúp ích đất nước. Thuở thiếu thời, Đặng Hữu Cán sống theo hoài bão của người cha thân yêu, người mẹ hiền thục, học rộng tài cao, tinh thông võ nghệ. Năm 21 tuổi (1759) Ông gia nhập quân đội nhà Lê, dưới triều vua Lê Hiển Tông (1740-1786) có công lao lớn, được triều đình phong kiến nhà Lê phong chức Chánh suất đội trưởng.

Xã hội phong kiến Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XVIII đầy những biến động lịch sử. Ở Đàng Ngoài, nhà Lê suy yếu không còn đảm đương sứ mệnh của đất nước, chúa Trịnh bạo tàn không đủ khả năng giúp dân, giúp nước. Ở Đàng Trong, phong trào khởi nghĩa nông dân Tây Sơn ngày một lớn mạnh. Trước hoàn cảnh lịch sử đó, với nhận thức và bản lĩnh vững vàng lại được thử thách qua trận mạc, Đặng Hữu Cán đã quyết định đem quân bản bộ về gia nhập nghĩa quân Tây Sơn. Ông được Bắc Bình Vương - Nguyễn Huệ cùng quần thần đón tiếp thu nạp và được cử đi trấn ải ở bờ Nam sông Lam-Hà Tĩnh.

Theo Cuốn "Lịch sử phát triển họ Đặng Hữu tại Chi Phan" xã Thạch Tiến, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh thì ghi rõ:

"...Đặng Hữu Cán sinh giờ Ngọ ngày 25 tháng 4 năm Mậu Ngọ 1738, vợ là bà Phan Thị Lánh, con một vị quan quê vùng Vân Tán (Da Dù) Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh. Ông gia nhập quân đội nhà Lê giữ chức Chánh suất đội và phụ trách nhiều đội quân nên gọi là Chánh suất đội trưởng. Nhà Lê suy yếu, Ông đưa quân lính tìm đến nghĩa quân Tây Sơn được các quần thần trong triều ủng hộ, Ông đưa quân trấn ải ở phía Bắc thuộc vùng Nam sông Lam ngày nay...".

Sau này, với tài thao lược và lòng trung thành với Tây Sơn, Đặng Hữu Cán ngày càng được Nguyễn Huệ tin yêu và kính trọng. Trong một lần nghĩa quân Tây Sơn tổ chức thi võ tại chùa Thông Phạn ở xã An Lạc (nay là xã Xuân An, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh), Ông được Nguyễn Huệ đưa về Phú Xuân. Trong chiến dịch thần tốc tiến quân ra Bắc tiêu diệt 29 vạn quân Thanh xâm lược (Kỷ Dậu 1789), vị anh hùng kiệt xuất Quang Trung-Nguyễn Huệ cùng nghĩa quân Tây Sơn dừng chân ở vùng đất Châu Hoan, Châu Ái, Đặng Hữu Cán đã góp phần đáng kể trong việc giúp Quang Trung - Nguyễn Huệ tuyển mộ thêm được hàng vạn binh sĩ ở Nghệ An bổ sung vào lực lượng hùng hậu của Tây Sơn, góp phần vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống quân Thanh xâm lược. Trong trận quyết chiến chiến lược thần tốc, bất ngờ vào cứ điểm cuối cùng của quân Thanh là Ngọc Hồi- Khương Thượng, Đặng Hữu Cán đã lập công lớn, góp phần tiêu diệt đạo quân Điền Châu của Sầm Nghi Đống, buộc hắn phải thắt cổ tự tử, rồi kéo quân vào Thăng Long trước để kịp đón Quang Trung trước sự khích lệ của hàng vạn quân sĩ và dân chúng Hà Thành. Năm 1802 (ngày 25 tháng 5 năm Nhâm Tuất) Đặng Hữu Cán bị bệnh mất tại Phú Xuân (theo Gia phả họ Đặng, trong trận đánh Ngọc Hồi Ngài bị thương ở cánh tay, sau phải về Thuận Hoá tĩnh dưỡng và tiếp tục phục vụ nhà Tây Sơn cho đến khi mất. Nguyễn Ánh sau khi lên ngôi đã trả thù hèn hạ các quan lại, tướng lĩnh triều Tây Sơn nên người vợ goá của Ngài là Phan Thị Lánh phải dắt 4 con trai về lánh nạn tại Ngọc Điền - Thạch Thượng, sau đó chuyển về sinh sống tại Chi Phan - Thạch Tiến, Thạch Hà, Hà Tĩnh. Lăng mộ của Ngài cũng bị tàn phá, hiện chỉ còn một số dấu tích mộ, đền thờ tại Ngã ba Sanh Hồng, đường Huỳnh Thúc Kháng, quận Phú Bình, Tp. Huế. TG). Về sau (năm 1910), con cháu đã lập đền thờ Ông tại xóm Lộc, xã Thạch Tiến ngày nay.

Hiện nay, tại đền thờ Đặng Hữu Cán còn giữ long ngai và bài vị của Ông bằng chữ Hán. Nhìn tổng thể, đền thờ được xây dựng theo hướng Tây, gồm 3 gian 2 hồi xây tường bít nóc, 2 mái lợp ngói tây. Kết cấu vì kèo gỗ lim chồng giữa gác tường. Đền được xây dựng có diện tích chiều dài 5,95m x chiều rộng 3,20m. Tường phía trước cao 3,05m, tường phía sau cao 2,77m. Mặt trước từ sân đền thờ bước lên bậc tam cấp cao 0,30m, đến dãy hành lang phía mặt trước các gian thờ chính. Phía trước gồm 2 cột trụ bằng gạch, xi măng đỡ đuôi kẻ mái gian giữa. Hai hồi đầu hành lang Nam - Bắc được trổ cửa thông nhau. Hành lang dài 5,9m x rộng 2,60m; cửa hành lang có kích thước giống nhau, chiều rộng 0,83m x chiều cao 1,90m. Hai cột hiên phía trước cao 2,40 x 0,25m (4 cạnh vuông). Mặt trước đền thờ trổ 3 cửa, cửa chính gian giữa rộng 1,28m x cao 1,93m. Hai gian hồi phía Bắc và Nam có kích thước giống nhau, chiều dài 3,15m x chiều rộng 2,10m. Kết cấu vì kèo cơ bản các gian giống nhau. Hệ thống xà ngang và xà dọc được liên kết với nhau theo kiểu thức chồng giường không có cột trụ bằng gỗ; các đuôi kẻ mái và đuôi xà hạ được gác vào hệ thống tường nhà phía trước và sau của mái. Phía trên xà thượng ở các gian là hệ thống con đấu hình trụ vuông gác đỡ vào phía trên xà hạ.

Nội thất đền thờ được bài trí: gian giữa xây bệ thờ bằng gạch, xi măng 3 cấp. Phía trên bàn thờ có bức hoành phi bằng gỗ sơn son thếp vàng khắc nổi 3 chữ Hán: "Tế Như Tại" và bức đại tự gồm 4 chữ Hán được khắc trên bề mặt của 4 tấm ván rời hình vuông sơn son thếp vàng: "Tổ Đức Lưu Quang" (tạm dịch: Đức của Tổ Tiên soi sáng mãi). Gian hồi phía Nam và phía Bắc có bệ thờ giống nhau về kiến trúc và kích thước...được xây bằng gạch, vôi vữa và xi măng. Hai bên là 2 câu đối được khắc trên 2 tấm gỗ sơn son thếp vàng, nội dung:

Tổ khảo thiên thần thiên cổ tụy

Xuân thu thường tự ức niên tân.

Tạm dịch:

Tinh thần của ông cha ngàn đời nhóm tại đây

Cúng tế hai mùa Xuân Thu muôn năm vẫn cứ làm mãi.

Phía trên bàn thờ gian giữa bài trí long ngai, bài vị, bàn chè, mộc chủ, bản long văn...bằng gỗ sơn son thếp vàng. Bàn thờ gian phía Bắc và phía Nam được trang trí long ngai, bài vị, giá y, mộc chủ, mâm chè, hộp quả, cọc đèn...bằng gỗ sơn son thếp vàng (bài vị bằng chữ Hán: "Cao cao Tổ khảo Tiền ưu binh Chánh suất đội thăng Thiên hộ chức gia phong Khâm thừa đế mệnh Đặng tướng quân thần vị", trước đây được phủ một lớp sơn mờ để tránh sự dòm ngó, phát hiện của chính quyền nhà Nguyễn. Trong nhà thờ còn có nhiều câu đối bằng chữ Hán. TG).

Đền thờ Đặng Hữu Cán là nơi lưu giữ các tài liệu hiện vật gốc có giá trị liên quan đến cuộc đời, thân thế và sự nghiệp của Ông. Nhà thờ từ trước tới nay được chính quyền và nhân dân địa phương xã Thạch Tiến, đặc biệt là con cháu dòng họ bảo quản chu đáo và phát huy tác dụng giáo dục truyền thống cho các thế hệ con cháu về sau"(3).

Tính đến nay công trình đã được trùng tu nhiều lần vào các năm: 1929,...,1992, 1998 và từ năm 2006 Nhà thờ Đặng Hữu Cán được bảo quản, duy tu theo quy định đối với Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh. Hàng năm vào ngày mất của cụ Đặng Hữu Cán (25 tháng 5 âm lịch) con cháu họ Đặng Hữu Chi Phan-Thạch Tiến dù sinh sống ở nhiều nơi trong nước hay ở nước ngoài đều ghi nhớ, tưởng niệm và làm giỗ Ngài tại nhà thờ ở xóm Lộc, xã Thạch Tiến.

 

(1)- BaoBinhDinh - Đô đốc Đặng Hữu Cán với Phong trào Tây Sơn (baobinhdinh.com.vn ngày 2/10/2006)

(2)- TG: Tác giả

(3)- Lưu niệm danh nhân thời Tây Sơn trang 115-120, Bảo tàng Quang Trung, 2012.

 

Tác giả Đặng Hữu Trung

Sinh năm 1949

Quê quán Hà Tĩnh

Đã công tác tại các Đại sứ quán VN ở Ba Lan, Hoa Kỳ và LB Nga

Hiện nay đã nghỉ hưu- Thường trú tại TP. Vũng Tàu.

Danh sách mới hơn