Trang chủGia phảĐặng tộc thế phả tự

Đặng tộc thế phả tự

Thứ Sáu, 26/07/2013

Đã từng nghe rằng, tổ tiên ta ở tận xứ Nghệ xa xôi, năm đó nạn giặc Minh xâm lấn bờ cõi, nghĩa khí nổi lên khắp nơi, Viễn tổ Đặng Quốc Công dốc sức phò vua tiến đánh quân Minh, Ngài chết oan và đã để lại cho con cháu muôn vàn thương tiếc. Đến khi Ngài Đồng Bình Chương sự tể tướng Đặng Dung cầm quân tiếp tục phò vua Trùng Quang, do thời vận nên cũng bj sa vào tay giặc. Anh hùng gác kiếm, gương tiết nghĩa để lại ngàn thu. Con cháu hậu duệ ly tán bốn phương, người về cố hương Mạc xá, người đến Sơn Đông Lập Thạch, người tới Mạc Bồ Sơn Vi. Nước mất nhưng nhà không tan, con cháu hậu duệ noi gương tiết nghĩa đã làm rạng rỡ tông môn.

LỜI TỰA QUYỂN PHẢ

Đã từng nghe rằng, tổ tiên ta ở tận xứ Nghệ xa xôi, năm đó nạn giặc Minh xâm lấn bờ cõi, nghĩa khí nổi lên khắp nơi, Viễn tổ Đặng Quốc Công dốc sức phò vua tiến đánh quân Minh, Ngài chết oan và đã để lại cho con cháu muôn vàn thương tiếc. Đến khi Ngài Đồng Bình Chương sự tể tướng Đặng Dung cầm quân tiếp tục phò vua Trùng Quang, do thời vận nên cũng bj sa vào tay giặc. Anh hùng gác kiếm, gương tiết nghĩa để lại ngàn thu. Con cháu hậu duệ ly tán bốn phương, người về cố hương Mạc xá, người đến Sơn Đông Lập Thạch, người tới Mạc Bồ Sơn Vi. Nước mất nhưng nhà không tan, con cháu hậu duệ noi gương tiết nghĩa đã làm rạng rỡ tông môn.

Thân phụ ta là Đặng Thì Thố tự Quang Thân, cả vùng An Lạc,huyện Thanh lâm không ai mà không biết khi ông đỗ Hội nguyên, Đình nguyên, tiến sĩ cập đệ tam danh (Thám hoa) khoa kỷ mùi, niên hiệu Quang Bảo 6 (1559) đời Mạc Phúc Nguyên, làm qua giữ chức Hàn Lâm viện Đại chế.

Họ hàng thì phải có phả  ghi chép lại thế thứ trước sau , niên đại xa gần để cho con cháu mai sau còn biết được gốc tích của mình cũng như công lao trời bể của tổ tiên. Ta nay dùng tài mọn của mình, theo sự dạy bảo của cha, tiếc rằng sự am hiểu còn nông cạn, đường đi lối lại khó khăn không đến được những vùng đông đúc Đặng gia như Cẩm giàng, Mỹ Lộc. Thôi thì biết đến đâu ta ghi chép lại đến đấy một cách rõ ràng, ngõ hầu để lại cho đời sau biết mà giữ gìn gốc tích của tổ tiên.

Tháng tám mùa thu nhân người cùng họ là Đặng Thuần Nhân tiên sinh thi đỗ Tiến sĩ ta trình bày lời tựa của cuốn gia phả này, Nhị thập ngũ nhật, Canh thìn niên 1640).

TỔ ĐỜI THỨ NHẤT

Tiền Nam Dương Quận Đặng Quý Công, húy Trọng Quang, sinh năm Tân Dậu 1381. Bản quán Tổng Đặng Sơn, Nam Đường, Phủ Anh Đô. Tước là Phúc An Hầu. Cụ còn có tên là Trọng Nhàn Tiên sinh. Cụ đỗ Hiệu Sinh triều nhà Hồ, Nhưng vì thời thế nhiễu nhương cụ không ra làm quan mà ở  nhà làm nghề Lương Y. Tên tuổi của cụ nổi danh khắp vùng, là một người thày thuốc nhưng cụ có tinh thần yêu nước thương dân. Cụ thường  cứu chữa cho người nghèo, thương cảm những mảnh đời cùng cực, bởi vậy nói đến cụ ai ai cũng tỏ lòng cung kính. Năm 1403 cụ tham gia nghĩa quân Hậu Trần chống quân Minh xâm lược nước ta. Cụ là một tướng tài trong đội quân của Trùng Quang Đế, Thời vận không đem đến điều thịnh vượng cho nhà Trần. Khi nhà Trần suy vong cụ cùng gia đình tránh về lập trang trại tại làng Trung Lữ, thôn Thượng Thọ, xã Bạch Đường, tổng Đặng Sơn, huyện Nam Đường Phủ Anh Đô chờ minh chủ mới. Khi Thái tổ Lê Lợi khởi binh chống giặc Minh, cụ đã nhanh chóng tham gia nghĩa quân, do có nhiều công trạng nên cụ được phong tước Hầu. Tức là Phúc An Hầu.

Chính thất phu nhân là bà Trần Thị Ân, cháu nội vua Trần Quý Khoáng sinh hạ:

- Trưởng nam: Đặng Trọng Tuân sinh năm 1413, ông đỗ Hương Cống đi ra bắc dạy học và lưu cư ở Thừa Tuyên Hải Dương.

- Thứ nam: Đặng Trọng Trân

 Bà Thứ Thất họ Nguyễn, người làng Đặng Xá hay còn gọi là Chu Đậu, huyện Thanh lâm nay là xã Thái Tân huyện nam Sách tỉnh Hải Dương sinh hạ:

- Đặng Phúc An lưu cư Bùi Đông thôn, tổng Thịnh liệt, Hoàng Long xứ, Phủ Thường tín.

- Đặng Quý Công húy Sĩ sinh năm 1416, ông đỗ Hiệu Sinh

TỔ ĐỜI THỨ HAI

Tiền nam dương quận, Đặng Quý công húy Sĩ, tự Quang Toàn, sinh năm Ất Hợi, thời Lê Thần Tông năm 1416. sau khi đỗ hiệu sinh ông theo anh về Bắc dạy học và trở về quê ngoại ở làng Chu Đậu. Ông học được nghề làm đồ gốm và  ông trở thành đại gia về ngành gốm sứ nổi tiếng bắc kỳ. Ông mất trong một vụ chìm tàu ở ngoài biển khi đang chở đồ sứ đi bán.

Chính thất:  Nguyễn Thị  sinh hạ nhất nam Đặng Quang Toản, năm Đại bảo thứ ba 1442, ông đỗ Hoành Từ, được bổ về làm quan Ngoại Lang tại Phố Hiến tỉnh Hưng yên, sau dời cư về làng Sài Quất , tổng Phú Khê , phủ Khoái Châu.

Thứ thất: Bùi Thị Ý người thôn Quang Ánh huyện Gia Phúc, không sinh con. Bà phu nhân Đặng Sĩ là người kỳ tài nổi danh ở đất Hưng Yên.

TỔ ĐỜI THỨ BA

Tiền Nam Dương Quận Đặng Quý Công, húy Quang Toản, người Sài Quất, tổng Phú Khê Phủ Khoái Châu, là con ông Đặng Sĩ và bà Nguyễn Thị… Ông sinh năm Đại Bảo thứ ba 1442, ông học hành giỏi có tiếng , từ khi còn nhỏ tuổi ông đã thông thạo các kinh sư. Ông đỗ Hoành Từ được bổ làm quan ngoại lang, sau đó làm thăng chức Án sát sứ Hưng Yên, Tước Quang Tôn Hầu.

Chính thất phu nhân người họ Bùi, sinh hạ:

- Con thứ nhất: Đăng Tiến Hà sinh năm 1472

- Con thứ hai: Đặng Kỳ sinh năm Mậu Tuất 1478

TỔ ĐỜI THỨ TƯ

Tiền Nam Dương Quận Đặng Quý Công, húy viết Kỳ.  Ông sinh năm Mậu Tuất 1478, lúc đó chú họ ông là Đặng Cung ở Băc ninh đỗ Tiến Sĩ. Ông đỗ Hiệu Sinh, là một thầy địa lý và phong thủy rất giỏ. Ông thường được triều đình vời vào hầu giảng và xem tướng số cho các đại quan. Triều đình sủng ái ông , cấp cho nhiều lộc điền.

Chính thất phu nhân bà họ Lê, sinh hạ:

- Con thứ nhất: Đặng Bình  năm Tân Mùi 1511

- Con thứ hai: Đặng Quang Hải 1513

- Con thứ ba: Đặng Quang Hạnh

- Con thứ tư: Đặng Quang Đôn

 TỔ ĐỜI THỨ 5

Tiền Nam Dương Quận Đặng Quý Công, Húy Hải sinh năm  1513. Ông là võ tướng tài ba, phò Lê diệt Mạc, tước Quận công. Ông phối thất chùng bà phu nhân họ Đào. Sinh hạ :

- Con thứ nhất: Đặng Thì Thố năm 1533

- Con thứ hai: Đặng Thì Mại

- Con thứ ba: Đặng Tài

- Con thứ tư: Đặng Thế Chiến

TỔ ĐỜI THỨ SÁU

Tiền Nam Dương Quận, Đặng Quý Công, húy Thì Thố, ông sinh năm 1533, ông được cha mẹ gửi về bên quê ngoại, sống với ông bà. Vơi sự dạy dỗ của ông ngoại vốn là một thày đồ giỏi xứ Nghệ, đến năm Kỷ Mùi 1559 ông đỗ Tiến Sĩ. Sau đó ông được bổ làm quan Trấn thủ Quảng Yên, thăng Han Lâm Viện Đại Chế. Ông là người hiển đạt, được người đương thời kính trọng.

Ông phối thất cùng bà Trần Thị Dương sinh hạ:

- Con thư nhất: Đặng Thì Khoan sinh năm 1565

- Con thứ hai: Đặng Thì Mẫn sinh năm 1575, tiến sĩ khoa Quý Sửu năm 1613.

Ngày tốt mùa xuân, năm Canh Thìn 1640, nhân có cháu họ là Đặng Thuần Nhân đỗ Tiến Sĩ, ta đem chuyện tổ tông ra bàn và ghi lại quyển phả này để mai sau con cháu còn biết được công lao khái lược của tổ tông. Rất tiếc còn nhiều việc chưa rành, nên sự ghi chép chưa được hoàn hảo, chỉ biết rằng tổ nghiệp của ta phát tích từ đất Sài Quất, từ đó nhen lên thành cành , thành nhánh, nối đời cho đến khi ta có công nhỏ mọn dui mài kinh sử nối tiếp cơ nghiệp tiền nhân.

Nay kính bút: Đặng Thì Mẫn, Tiến sĩ khoa Quý sửu (1613)