Trang chủHồn ViệtHồn Việt trong thơ bút tre

Hồn Việt trong thơ bút tre

Thứ Ba, 03/06/2014

Thi hào Nguyễn Du từng lấy rượu giải sầu, mắt lim dim nhìn qua cửa sổ, thương những cánh hoa rơi. Trong bài “Đối tửu” (Ngồi uống rượu), ông cho rằng lúc sống không uống cạn hồ rượu, thì khi chết ai tưới rượu lên mồ cho. Cuộc đời trăm năm chỉ mong được suốt ngày say. Thế sự như mây nổi thật đáng buồn (Bách ki đãn tắc chung triêu tuý/ Thế sự phù vân chân khả ai).

“Thế sự phù vân, sự đời chán như mây nổi thành nỗi buồn thế sự gặp ở nhiều nhà thơ từ cổ chí kim. Cụ thánh thơ Cao Bá Quát cũng bộc lộ:“Thế sự thăng trầm quân mạc vấn/ Yên ba thâm xứ nhất ông câu”. Cụ bảo sự đời thăng trầm là lẽ thường, anh hỏi làm gì. Kìa xem ông chài đang thả câu ở chỗ mờ mịt khói sóng mà vẫn thảnh thơi thì thăng trầm không đáng kể. Thế sự ấy thấy nhiều ở thơ Đường. Tô Đông Pha viết “Phú Xích Bích”, Lý Bạch viết từ “Tương tiến tửu”. Các thi nhân Trung Hoa cũng cho rằng nghĩ làm chi cho mệt cái sự đời. Mọi thứ sẽ trôi qua, chỉ còn lại gió mát trên sông, trăng bên sườn núi, nước Hoàng Hà từ trời chảy xuống. Kết cục, hoặc tiêu sầu bằng rượu, hoặc ở ẩn, cho khuất mắt cái sự đời.

Nhưng đến Bút Tre- Đặng Văn Đăng thì khác. Vẫn là “Thế sự thăng trầm quân mạc vấn”, nhưng tiếp sau cái định đề buồn chán thế sự ấy là “Cây đa bến cũ vẫn ngồi nguyên”. Ông thừa nhận những buồn chán về thế sự, nhưng tiếp đó là tôn vinh văn hoá. Tôn vinh và tin tưởng hồn Việt sẽ trường tồn, mặc cho sự đời có thăng trầm: “Thế sự thăng trầm quân mạc vấn/ Cây đa bến cũ vẫn ngồi nguyên”.

Xin dẫn ra xuất xứ của bài thơ có câu thơ đáng bàn này.

Theo nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn, người cộng sự tin tưởng của Bút Tre- Đặng Văn Đăng- Trưởng ty Văn hoá tỉnh Vĩnh Phú, thì sau năm 1963, Bút Tre cho in tập thơ “Rừng cọ đồi chè”, nhiều người chê thơ ông ngô nghê thô thiển. Nhà thơ Xích Điểu phê phán thơ Bút Tre dễ dãi, tự nhiên chủ nghĩa. Nhân đó, những người không yêu ông được dịp thêm thắt, đưa những cái ngây ngô gán cho thơ ông. Chẳng hạn, ông viết “Anh lên đồi núi cúi chào/ Đồi vươn nương sắn gò cao cây chè/ Anh đi đồng ruộng lắng nghe/ Lúa mừng phân bắc khoai che mảnh vườn…”, thì bị gán là “Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh/ Anh về phân bắc phân xanh đầy nhà/ Anh về gà lợn hát ca/ Bao nhiêu lợn nái trâu cà bấy nhiêu”…vv…vv. Bút Tre chịu nhiều tai tiếng từ đấy. Nhưng cũng từ đấy chúng ta có một dòng thơ dân gian Bút Tre chảy mãi đến sau này.

Bút Tre bị phê phán nhưng ông không chịu. Thời ấy, có nhà thơ lớn muốn giúp đỡ, chuốt lại thơ Bút Tre. Ông thưa: “Bút sắt là bút sắt, bút tre là bút tre. Hai dòng văn học bác học và văn học bình dân ngang nhau, song hành nhau trong dòng chảy văn học Việt Nam. Không thể lấy bút sắt thay bút tre được!”. Và không chỉ nói ra miệng, ông tuyên ngôn bằng thơ sẽ suốt đời phụng sự thơ ca dân gian, coi ca vè là nguồn sữa mẹ nuôi dưỡng thơ ông: “ Bút Tre nối bước những ai/ Một dòng thơ mở đường quai kể vè/ Năm năm dân dã lắng nghe/ Một Bút Tre thành vạn Bút Tre các làng”.

Sau sự cố ấy ông tạm gác bút suốt 20 năm, lao vào gây dựng phong trào văn hoá. Năm 1984, nhân lần đón nhạc sỹ Văn Cao lên Đất Tổ, ông giãi bày tâm sự với tác giả “Tiến quân ca”. Ông xúc động, cảm kích tấm lòng của Nguyễn Tuân, của Văn Cao và những nghệ sỹ hiểu ông, bênh vực ông, đòi phán quyết về sự minh bạch ấy. Bút Tre tặng Văn Cao bài thơ này: “Bút Tre thừa kế thả hồn thơ/ Sáng tác văn thơ tự thuở xưa/ Vang bóng một thời đòi phán quyết/ Dế mèn bút kí há mần ngơ/ …Nhân việc bàn nhau nối phục hồi/ Văn Cao nghe tiếng luống bồi hồi/ Sản sinh nghệ thuật lòng dân dã/ Hấp dẫn tâm hồn tự khúc nhôi/ Người về bến cũ khảm con thuyền/ Dằng dặc tháng năm gác cánh xuyền/ Có những yếu non tầm vóc lớn/ Thêm bao bịa đặt cá nhân xuyên/ Lần đầu chưa hẳn màn bi kịch/ Đoạn vĩ âu đây cuộc hí truyền/ Thế sự thăng trầm quân mạc vấn/ Cây đa bến cũ vẫn ngồi nguyên”.

“Cây đa bến cũ vẫn ngồi nguyên”. Câu thơ khẳng định con đường đã chọn của thơ ông. Hơn thế, là niềm tin tưởng chắc chắn vào sức sống trường tồn của văn hoá Việt. Trở lại chuyện trên, các bậc thi hào thời xưa cho rằng thế sự chán chường như mây nổi. Thì đến Bút Tre, dù cuộc đời có mây nổi chăng nữa, sau những thăng trầm thế sự, sau những khúc quanh lịch sử, tất yêu hồn Việt vẫn ngồi nguyên. “Cây đa bến cũ vẫn ngồi nguyên” tức là hồn làng, hồn nước vẫn ngồi nguyên, không thể mất. Bao nhiêu câu ca dao về cây đa bến nước là bấy nhiêu tâm tình người dân Việt, cả tình yêu nam nữ, lòng yêu làng xóm, yêu quê hương đất nước, yêu nguồn cội, yêu con người và văn hoá Việt. 

Bút Tre là cán bộ văn hoá nhiệt thành. Nhiệt thành tới mức hồn nhiên, không che đạy, không ngơi nghỉ, không chịu làm một trượng phu hèn. Những năm cuối đời, hưu trí tại quê hương Đồng Lương- một làng vè nổi tiếng của Đất Tổ- ông vẫn say sưa, bền bỉ viết cuốn“Sử thi con người Việt Nam”. Cuốn sách này tôn vinh con người và văn hoá Việt Nam, viết từ năm 1962, được chỉnh sửa, bổ sung suốt 23 năm. Bản thảo cuối cùng ông gửi cho đồng chí Hoàng Tùng xin ý kiến vào tháng 1/ 1986. Rồi đưa cho Xuân Diệu, Huy Cận chuốt. Xin trích đoạn di cảo của Bút Tre liên quan đến cuốn sách này: “Một việc thật là kỳ vĩ đối với tôi, không biết có thể thoát năm 1985, chắc chắn thoát, tiến tới 1986, hi vọng vươn tới năm 1990 ( ước mơ). Nếu đến đó được định hình thì hoàn tất toàn bộ cuốn “Con người Việt Nam” đã viết từ năm 1962, chép lại lần thứ ba 26-6-1985, nhân kỷ niệm Bác 100 tuổi, Đảng 70 tuổi, nước 55 tuổi, tôi 90 tuổi. Nhưng không chắc gì vì tôi sinh 28 /tháng 6 đủ, năm Tân Hợi, tức 23/7/1911, Bác ra đi 6/1911. Nhưng khó lắm, khó lắm…” Tiếc thay, cuốn sách đã thất lạc hoặc đã chìm đâu đó trước những khát khao cháy bỏng của Bút Tre.

Và “Dù có buông neo buồm hạ cánh” Bút Tre “Vẫn say sưa bám sát tình đời”. Bởi sinh thời, ông nặng lòng tôn vinh văn hoá Việt, dấn thân cho văn hoá, cả trong ý thức lẫn hành động. Nhiều lần, tại các hội nghị về văn hoá, ông trao truyền cho các đồng nghiệp tình yêu ấy. Ông trân trọng những công trình nghiên cứu văn hoá Việt, những phát hiện sâu sắc của nhà nghiên cứu văn hoá có tầm cỡ: “Văn hoá Việt như nước, nó có thể âm thầm thẩm thấu rất sâu, có thể giận dữ trào lên rất cao, nó nhận vào tất cả, như nước, để làm tất cả mới hơn”. (Cao Huy Đỉnh).

Vùng Đất Tổ vua Hùng đậm đặc dấu tích văn hoá do tổ tiên gửi lại. Nếu một quốc gia còn có những người nhiệt thành, trân trọng văn hoá Việt như Bút Tre, lại có đông đảo quần chúng ý thức được cách giữ gìn, sử dụng văn hoá, ngôn ngữ Việt kiểu Bút Tre thì ắt sẽ vợi bớt những quan ngại trước ảnh hưởng của toàn cầu hoá.

“Cây đa bến cũ vẫn ngồi nguyên” tức là truyền thống văn hoá Việt vẫn ngồi nguyên, vẫn trường tồn. Niềm tin tưởng của Bút Tre chứa đựng trong câu thơ chững chạc ấy đã thắp lên một tên tuổi, một nhà thơ Bút Tre và dòng thơ Hậu Bút Tre.

Bút Tre tiên đoán đúng điều ấy. Ông điềm tĩnh trước những thăng trầm, khúc quanh lịch sử, tự tin chấp nhận những tai tiếng để đạt bằng được cái lớn hơn là tôn vinh văn hoá Việt. Ông gửi lòng vào những câu thơ gan ruột: “Lịch sử quanh co trêu ghẹo mãi/ Nhân tài bất hạnh lặng im tờ…/ Tạo một dòng thơ đời mẫu mực/ Trọn đôi tai tiếng tạo nên thiên”.

Đã có một nhà thơ Bút Tre tưởng như ngô nghê, quê mùa, sẵn sàng chịu tai tiếng để đổi lấy tiếng cười sảng khoái, lạc quan vượt lên thế sự, để từ một Bút Tre tiếp nối cả ngàn Bút Tre. Bản lĩnh Bút Tre, thơ Bút Tre khởi nguồn từ ca vè, từ văn hoá Việt.

Cao Văn Định (http://www.vanhocnghethuatphutho.org.vn/)