Trang chủTìm trong sử sáchDi sản Hán Nôm về Chiêu nghi Thành hoàng Đặng Thị Cúc

Di sản Hán Nôm về Chiêu nghi Thành hoàng Đặng Thị Cúc

Thứ Tư, 13/11/2013

Người phụ nữ được dân làng nơi sinh thành suy tôn và triều đình công nhận danh hiệu Thành hoàng làng, thật hiếm trong tổng số Thành hoàng làng Việt Nam.

 Đặng Văn Lộc, Sở Văn hóa Hải Dương - Thông báo Hán Nôm học 2005 (tr.407-412)

 Đã có ba quyển sách sưu tầm khảo cứu về Thành hoàng làng ở Việt Nam. Đặng Thị Cúc được nhắc ở sách thần tích thần sắc, công trình giới thiệu thư mục của Viện Thông tin Khoa học Xã hội - Việt Nam (KHXHVN) về các bản khai Sự tích Thành hoàng làng của hương lý chánh hội năm 1938 theo yêu cầu của triều đình nhà Nguyễn (1802-1945). Tư liệu này hiện được lưu ở Viện Thông tin KHXHVN. Nội dung của bản khai Sự tích Thành hoàng. Đặng Thị Cúc cho ta biết tên, quê quán ngày sinh, ngày giỗ ngày chạp bia và những quy định về ứng xử của địa phương với người được dân làng suy tôn là Thành hoàng làng. Hành trạng, công lao của Đặng Thị Cúc chỉ ghi vắn tắt: Trước khi thờ làm Thành hoàng bà là hậu thần, là Chiêu nghi Thị nội cung tần triều Lê. Hiện nay còn chứng tích văn bia và sắc phong ghi về bà.

Hai văn bản sao sắc phong Thành hoàng, Đặng Thị Cúc thuộc các niên đại Khải Định thứ 2 (1917) và Khải Định thứ 9 (1924) là tư liệu Hán Nôm quý giúp ta khẳng định Đặng Thị Cúc có tên trong “sổ triều đình” được tặng danh hiệu Thành hoàng làng. Văn bia về Chiêu nghi Đặng Thị Cúc được Bảo tàng tỉnh Hải Dương in dập, dịch nghĩa. Khi so sánh giữa văn bản của bảo tàng Hải Dương - bản sao vi tính văn bia “Chiêu nghị tự sự bi ký” (Văn bia Chiêu nghi), bản khai Sự tích Thành hoàng và văn bản văn bia ở địa phương thấy có nhiều điểm khác nhau. Bản khai Sự tích Thành hoàng về Đặng Thị Cúc viết chữ Cúc (菊) mang nghĩa hoa cúc còn văn bia viết chữ Cúc (鞠) mang nghĩa cúc cung, tận tụy. Ngày sinh (ngày 9/6) trong Sự tích Thành hoàng lại là ngày an táng (24/6, theo văn bia). Điểm khác nhau còn thấy bản sao vi tính văn bia Chiêu nghi tự sự bi kýchép nhầm, gần 50 từ, chép thiếu hai đoạn văn. Để cung cấp thông tin một cách đầy đủ, chính xác nội dung văn bia Chiêu nghi đã thúc giục chúng tôi tìm hiểu văn bản văn bia Chiêu nghi và biên dịch. Do khuôn khổ của bài viết xin được giới thiệu nội dung chính.

Địa điểm - niên đại - tác giả văn bia: Văn bia Chiêu nghi ở cánh đồng Bia thôn Phương Khê, xã Hồng Hưng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Bia là một khối đá vuông, đặt trên bệ đá, phần trên tạo chóp giống như lọng che kiệu rước thần ở lễ hội. Bia có hai vết nứt chạy hết chiều ngang ở khoảng 1/3 trên và 1/3 dưới thân bia, hai miếng vỡ nhỏ (dạng bị đạn bắn) làm mất mấy chữ. Bia có chiều cao 135cm. Đế bia cao 14cm (phần nổi trên mặt đất), các cạnh đều 144cm. Chiều rộng, phần trên thân bia 75cm, phần giáp đáy 78,5cm. Lòng bia có chiều cao 115cm, chiều rộng 58,5cm. Rèm bia không trang trí hoa văn. Chóp bia trang trí hoa văn hình mái ngói âm dương. Mỗi núi ngói khắc hai đường viền song song, bao một hoa cúc cách điệu. Trán bia trạm hoa văn mặt trời, mây bay. Bốn mặt bia khắc chữ Hán Nôm, chữ trên trán bia viết khổ lớn và ghi theo mặt bia có các dòng: Mặt 1: Chiêu nghi tự sự bi ký 昭儀祀事碑記(Bia ghi việc tế lễ Chiêu nghi). Mặt 2: Vĩnh Tự khoán văn 永祀券文(Khoán văn cho việc thờ tự muôn đời). Mặt 3: Tế vật nghi tiết lệ 祭物儀節例(Thể lệ, về vật tế và nghi thức tế) . Dòng này còn khắc các chữ Hoàng thượng vạn tuế 皇上萬歲chữ Hoàng thượng ở đầu dòng, chữ Vạn tuế ở cuối dòng. Mặt 4: Tế điền phân xử sở祭田分處所(Ruộng cúng tế ở các xứ). Bốn dòng chữ này cũng là nội dung chính của văn bia Chiêu nghi.

Văn bia được lập ngày tốt tháng trọng xuân năm Đức Nguyên 2 (1675) do Tiến sĩ Hồ Sĩ Dương, chức Bồi tụng, Thượng thư bộ Công, tước Duệ quận công, quê ở Hoàn Hậu, Quỳnh Lưu, Nghệ An nhuận soạn. Viết chữ vào bia do Phạm Đắc Chúng, xã Hồng Thị, huyện Gia Phúc chức Đặc nội thư tả Huyện thừa thực hiện. Làm bia đá, dựng bệ đá do Hoàng Văn Lộc, thực hiện. Dòng đầu của mặt “Chiêu nghi tự sự bi ký” khẳng định, “Vương phủ thị nội cung tần tặng Chiêu nghi tự sự bi ký” (Bia ghi việc tôn thờ bà Thị nội cung tần trong vương phủ được phong tặng là Chiêu nghi).

Nội dung của văn bia: Bốn mặt bia ghi các nội dung: Tiểu sử Chiêu nghi Đặng Thị Cúc, văn khế về việc thờ tự Chiêu nghi. Thể lệ về vật tế và nghi thức tế, ruộng tế ở các xứ đồng.

Phần tiểu sử ghi các thông tin: Chiêu nghi Đặng Thị Cúc (tên thụy là Diệu Hộ) người làng Ổi Lỗi, xã Hoa Xá, huyện Gia Phúc (nay là thôn Phương Khê, xã Hồng Hưng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương). Cha là Tả hiệu điểm Văn Xá hầu Đặng Quang Tiến, mẹ là Bùi Thị Tính. Chiêu nghi là trưởng nữ trong gia đình 3 gái 2 trai. Bà Cúc sinh giờ mùi ngày 9 tháng 6 năm Hoằng Định 11 (1610). Người có vẻ đẹp chim sa cá lặn, dáng phong nhã đĩnh đạc. Có sắc lại có đức. Năm 14 tuổi (â.l) được tuyển vào làm Thị nội cung tần của Vương phủ Đại nguyên súy chưởng quốc chính thượng sư thái phụ đức công nhân uy minh thánh Tây vương Trịnh Tạc. Một nội cung tần thực hiện công việc mau lẹ, cẩn thận. Thường được phụng mệnh làm trợ nội giúp chúa khi “ngự giá xuất chinh”. Có nhiều công lao được Chúa rất sủng ái, thưởng nhiều châu ngọc quý. Anh em được vinh hiển, cả chi họ được hưởng phúc ấm. Là người mở mang phong hóa. Trước khi về cõi vĩnh hằng đã lo việc hậu sự: Lập đền thờ, sập đá, bình hương đá, bia đá. Mua ruộng 12 mẫu cho người bản thôn cày cấy lấy lợi tức phục vụ ngày giỗ, ngày chạp bia. Nuôi cháu Đặng Quang Lâm từ nhỏ, coi như con để lo việc thờ tự. Tặng dân phụ già trẻ vòng xuyến bạc hơn 200 đôi. Bà Cúc mất ngày 2 tháng 5 năm Cảnh Trị 6 (1668), thọ 59 tuổi. Tin bà mất làm chấn động cả Vương phủ. Triều đình cử trọng thần về lo tang, ban sắc mệnh, phong tặng “Kiêm hạnh dụ tế”. Linh cữu quàn đến ngày 24 tháng 6 (hơn 40 ngày) mang về quê Ổi Lỗi an táng. Cho bản quán làm tạo lệ lo việc thờ tự.

Phần tiểu sử Đặng Thị Cúc trong văn bia giúp ta xác định địa danh cổ của làng Phương Khê, địa danh cổ huyện Gia Lộc. Chính sử thường chép việc vua việc chúa, chuyện bang giao, thiên tai, thi cử và việc của một số quan trọng thần nam. Chức nữ quan thường ghi đôi ba câu về Hoàng thái hậu, Hoàng hậu. Chức Chiêu nghi tuy là giúp việc tể tướng (thị tể tướng) nhưng “hình như” không được ghi vào chính sử. Qua văn bia Chiêu nghi, phản ánh nhiều thông tin lịch sử về một nữ quan. Nếu như không có văn bia này người đời vẫn cho rằng người phụ nữ tuyển vào Thị nội cung tần có mỗi việc mòn mỏi chờ ân ái của vua chúa.

Phần khoán văn trong nội dung “khoán văn cho việc thời tự muôn đời”, ngoài nghi thức ghi tên, địa chỉ người tế, có ba thông tin cần chú ý: Chiêu nghi không chỉ làm việc hết mình vì việc công mà với dân làng cũng đầy ân nghĩa “Vương cung phụng quản hương dân ở quê coi họ như con” (Vương cung phụng quản hương dân thi chi như tử). Thông tin thứ hai xác nhận vì việc làm ấy của Chiêu nghi mà thánh thượng cho bản quán được làm tạo lệ thờ tự. Thông tin thứ ba liên quan tới thời gian làm đền thờ, cho dân cày cấy ruộng để thực thi ngày giỗ, ngày chạp bia.

Phần văn tế ruộng (tế điền toại phân xứ sở) thể hiện lối văn hành chính. Cơ quan có thẩm quyền cho dân Ổi Lỗi 12 mẫu ruộng gồm 30 thửa có số diện tích cụ thể chia làm 6 phần, luân lưu mỗi năm 6 người cấy. Giá trị của văn tế ruộng còn là tên các cánh đồng mà ý nghĩa các từ Hàn Việt đó ẩn chứa những kỷ niệm, những đặc điểm của một miền quê. Tạo cho không gian sản xuất trong cấu trúc làng những giá trị của văn hóa tâm linh.

Phần thể lệ về vật tế, nghi thức tế gây chú ý ở bội số 12, các lễ vật được quy định cụ thể về số lượng. Loại thấp nhất về số lượng gồm: Xôi 12 mâm, mỗi mâm 1 cân, gà 12 con, mỗi con 1 cân, rượu 12 chĩnh, muối 12 phong, trầu cau 12 phong mỗi phong 12 miếng, hương đen 12 thẻ, nước 12 chén, chiếu 12 đôi. Loại mang bội số 10 lần của 12 gồm; chén 120 cái, đũa 120 đôi. Loại mang bội số 100 lần của 12 gồm: vàng mã 1200 thỏi. Có phải sử dụng số lượng lễ vật theo số 12 và bộ số của 12 xuất phát từ tính ngưỡng thờ 12 bà mụ? Như vậy lễ vật dâng cúng Chiêu nghi đã mang ý nghĩa thờ 1 người và thờ các nhân vật nữ được suy tôn.

Nghi thức tế quy định, tuần tự các bước: Đứng trước bàn thờ. Thắp hương. Lạy thần 4 vái. Dâng lễ vật. Quỳ chúc rượu. Lễ phủ phục. Đứng lên. Quỳ. Đọc văn tế. Lễ phủ phục. Đứng lên. Dâng lễ vật. Quỳ chúc rượu. Lễ phủ phục. Đứng lên. Dâng lễ. Quỳ chúc rượu. Lễ phủ phục. Đứng lên. Lễ từ thần 4 lạy. Đọc văn tế. Văn tế ngắn, đếm được 93 chữ Hán Nôm. Nội dung ghi niên hiệu triều vua, ngày tháng năm, quê quán, thành phần của những người dự tế (quan viên hương lão), lễ vật (hàn âm thanh chước, xuy bàn). Kính cáo Chiêu nghi Đặng quý thị tên thụy là Diệu Hộ. Đọc câu mời thần hưởng lễ.

Tháng 8/2005 chúng tôi có cuộc hỏi chuyện các cụ cao niên họ Đặng thôn Phương Khê, được biết: Họ Đặng có 3 chi, bà Cúc thuộc chi thứ 2. Năm 1952 nhà thờ bà 5 gian gỗ lim, mái ngói bị Tây dỡ làm bốt. Con cháu dòng họ Đặng gọi bà Cúc và các di vật liên quan bằng tên kính trọng, thân thiết: Bà tổ cô, Bia bà tổ cô… Trước cách mạng tháng Tám tổ chức tế lễ, lễ vật đúng như nghi thức văn bia ghi, nay giản tiện hơn.

Người phụ nữ được dân làng nơi sinh thành suy tôn và triều đình công nhận danh hiệu Thành hoàng làng, thật hiếm trong tổng số Thành hoàng làng Việt Nam. Qua văn bia, ngày nay ta được biết chính xác về địa danh cổ của một địa phương. Phong tục tập quán về nghi lễ Thành hoàng làng và một phần chế độ nữ quan mà chính sử không chép. Dòng họ Hồ của Tiến sĩ Hồ Sĩ Dương còn một bài văn bia, được dân làng Phương Khê gìn giữ trọn vẹn nội dung, văn phong đã 330 năm chứ không chỉ “Trăm năm bia đá…”.

Văn bia đến thời điểm hiện nay là cổ vật quý của địa phương, của tỉnh và của cả nước nhưng đã xuống cấp (nứt, vỡ). Vì vậy việc gìn giữ và phát huy giá trị theo quy định của Luật di sản văn hóa cần được chính quyền các cấp và dòng họ Đặng ở Phương Khê quan tâm./.

Danh sách mới hơn