Trang chủTìm trong sử sáchBài học bổ ích qua câu chuyện danh tướng Đặng Tất, Đặng Dung

Bài học bổ ích qua câu chuyện danh tướng Đặng Tất, Đặng Dung

Thứ Hai, 09/11/2015

Đặng Tất và Đặng Dung là hai cha con danh tướng dưới thời Hậu Trần. Hết lòng vì nước, hai ông đã làm nên những chiến công hiển hách. Dù thất bại do thời thế và sự tị hiềm vô lý nhưng tấm lòng và tài năng của hai cha con ông còn lưu mãi trong kho tàng lịch sử Việt Nam.

Tiến sĩ Bùi Việt Hải

Thông qua các câu chuyện và nhân vật lịch sử, chúng ta cảm nhận được chuyện buồn vui, gian khổ, quật cường của ông cha, nhìn nhận rõ ràng hơn về văn hóa dân tộc, người đời và chiêm nghiệm các bài học vô giá trong cuộc sống, cách chọn lựa, cách ứng xử. Đôi khi những thất bại mang lại cho chúng ta nhiều bài học bổ ích hơn thành công. Câu chuyện cuộc đời chiến đấu chống quân xâm lược nhà Minh của cha con danh tướng Đặng Tất, Đặng Dung là một bài học cảm động như vậy.

I. Đặng Tất - danh tướng tài ba và đa nhân cách: 

Quan nhà Trần 

Đặng Tất sinh ra và lớn lên tại làng Tả Thiên Lộc, huyện Thiên Lộc, Nghệ An - nay là xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ông thi đậu Thái học sinh thời nhà Trần và được bổ làm tri phủ Hoá Châu - nay là vùng Hải Lăng, Quảng Trị. Sau đó lại chuyển đến huyện Thăng Bình, Quảng Nam.

Tướng nhà Hồ 

Khi Hồ Quý Ly nắm quyền bính trong triều Trần đã tin dùng Đặng Tất. Năm 1391, ông được phong làm Đại tri châu Hoá Châu. Năm 1402, để củng cố phía Nam, Hồ Quý Ly cho lập ra 4 châu mới chiếm của Chiêm Thành là Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, đặt lộ Thăng Hoa để thống nhất cả 4 châu và cử Nguyễn Cảnh Chân làm An phủ sứ lộ Thăng Hoa. Theo sử sách, hai họ nhà Đặng và Nguyễn vốn đã có tình thân nên từ đó Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân càng thân thiết và có uy tín lớn trong vùng. 

Nhân lúc nhà Hồ chưa ổn định, Chiêm Thành quấy rối phía nam. Hồ Quý Ly sai Hoàng Hối Khanh làm Tuyên úy sứ trấn thủ cả vùng Thăng Hoa. Đến Thăng Hoa, Hối Khanh chọn Đặng Tất, Phạm Thế Căng và Nguyễn Lỗ giúp việc cho mình. 

Tạm hàng quân Minh 

Nhà Minh đem quân sang xâm lược, cha con Hồ Quý Ly thua chạy vào Nam, bị quân Minh đuổi gấp, bèn viết thư cho Hoàng Hối Khanh, sai lấy dân Việt mới đến khẩn hoang ở Thăng Hoa và dân bản địa cũ làm quân “cần vương” giao cho Nguyễn Lỗ, lại phong cho người Chiêm là Chế Ma Nô Đà Nan làm Thăng Hoa quận vương để vỗ về dân Chiêm tại đây.

Tháng 6 năm 1407 cha con Hồ Quý Ly bị quân Minh bắt. Chiêm Thành nhân đó mang quân đánh chiếm lại Thăng Hoa, dân mới di cư đến tan rã bỏ chạy, Hoàng Hối Khanh rút về Hoá Châu. Đặng Tất đi bằng đường thuỷ về trước, Nguyễn Lỗ đi đường bộ về sau. Lỗ vốn có hiềm khích từ trước với Đặng Tất, Trấn phủ sứ Thuận Hoá là Nguyễn Phong về phe với Lỗ ngăn không cho Đặng Tất vào thành. Tất đánh giết được Phong rồi sau đó cùng Lỗ giao chiến hơn 1 tháng và đánh bại Lỗ. Lỗ chạy sang Thăng Hoa đầu hàng Chiêm Thành và được trọng dụng.

Chế Ma Nô Đà Nan cô thế bị quân Chiêm giết chết. Chiêm Thành thừa thế tiến lên đánh Hoá châu, trong khi đó quân Minh sau khi bắt cha con họ Hồ cũng tiến vào Hoá Châu. Phạm Thế Căng đón quân Minh ở Nghệ An xin hàng. Trương Phụ cử Đỗ Tử Trung đi dụ Hoàng Hối Khanh và Đặng Tất. Hối Khanh bỏ trốn. Bị kẹp giữa hai kẻ địch, Đặng Tất quyết định hàng quân Minh để ngăn quân Chiêm bắc tiến, được Trương Phụ cho giữ chức Đại tri châu Hoá Châu như cũ. 

Tạm yên phía Bắc, Đặng Tất dồn sức chống Chiêm Thành phía Nam. Quân Chiêm không đánh nổi phải rút về. Đặng Tất sai người đi tìm Hoàng Hối Khanh về bàn mưu chống quân Minh. Tháng 7 năm 1407, Hối Khanh về đến cửa Hội, gặp gió to đánh vỡ thuyền, bị thổ binh theo quân Minh bắt được. Không muốn lọt vào tay quân Minh, Hối Khanh tự sát. Trương Phụ đem thủ cấp của Hối Khanh ra bêu ở chợ Đông Đô. 

Danh tướng Hậu Trần - Chuyển bại thành thắng

Tháng 11 năm 1407, tôn thất nhà Trần là Trần Ngỗi xưng đế ở Mô Độ (Ninh Bình), tức là Giản Định Đế, lập ra nhà Hậu Trần, khởi binh chống quân Minh. Quân Hậu Trần mới họp, bị quân Minh đánh bại phải chạy vào Nghệ An. Nghe tin, Đặng Tất liền giết quan lại nhà Minh ở Hoá Châu, mang quân ra Nghệ An theo Giản Định đế, được phong làm Quốc công. Trần Ngỗi lấy con gái ông làm vợ. Nguyễn Cảnh Chân và nhiều tướng khác cũng mang quân đến họp, thế quân Hậu Trần mạnh lên. 

Đầu năm 1408, theo kiến nghị của Đặng Tất, Giản Định Đế điều quân đánh Nghệ An và Diễn Châu, tiêu diệt lực lượng của hai quý tộc nhà Trần cũ là Trần Thúc Dao và Trần Nhật Chiêu theo hàng quân Minh trấn giữ.

Trương Phụ mang quân vào đánh Diễn châu. Quân Hậu Trần ít không chống nổi bèn rút vào Hoá Châu. Khi Trương Phụ đuổi đến cửa sông Gianh, Phạm Thế Căng ra đón, được Phụ cho làm Tri phủ Tân Bình. Phụ coi như đã dẹp xong Giao Chỉ, rút về Đông Quan (Hà Nội) rồi mang đại quân về nước. 

Tháng 5 năm 1408, Đặng Tất cùng Giản Định đế từ Hoá Châu ra đánh chiếm lại Nghệ An. Tân Bình vẫn do Phạm Thế Căng chiếm giữ. Thế Căng cậy quyền hống hách, tự xưng là Duệ Vũ đại vương. Tháng 7 năm 1408, Đặng Tất mang quân vào đánh Tân Bình, phá tan quân Thế Căng ở cửa Nhật Lệ, bắt giết Căng và cháu là Đống Cao. Quân Hậu Trần làm chủ từ Nghệ An tới Thuận Hoá.

Đại chiến Bô Cô

Giản Định đế lệnh cho Đặng Tất tiến quân ra bắc. Đặng Tất huy động quân 5 lộ từ Thanh Hoá đến Thuận Hoá, tiến ra Trường Yên (Nam Định). Dân đi theo rất đông. Ông tuyển thêm được nhiều binh lính, chia đường đánh đồn Bình Than, cửa Hàm Tử, chặn đường qua lại ở Tam Giang và đánh phá ngoại vi Đông Quan. 

Minh Thành Tổ sai Mộc Thạnh, Lưu Tuấn mang 4 vạn quân sang tiếp viện. Thạnh họp với Lữ Nghị ở Đông Quan, tập trung ở bến Bô Cô (Nam Định). Ngày 30 tháng 12 năm 1408, dưới sự chỉ huy của Đặng Tất, quân Hậu Trần đánh bại quân Minh một trận oanh liệt. Nhân lúc nước thuỷ triều lên cao, gió lớn, quân Hậu Trần đóng cọc ở sông và đắp luỹ hai bên bờ chống cự với hai cánh quân thủy bộ của địch từ giờ tỵ đến giờ thân, giết chết thượng thư bộ binh Lưu Tuấn, đô đốc Lữ Nghị, tham chính ty bố Giao Chỉ là Lưu Dục, đô chỉ huy sứ Liễu Tông và 10 vạn quân Minh. Mộc Thạnh dẫn tàn quân chạy vào thành Cổ Lộng. 

Về sau Lê Quý Đôn thời Hậu Lê đi qua vùng Ý Yên - Phong Doanh, thấy nông dân nhặt được những thanh gươm cũ của quân Minh, lại thấy thành Cổ Lộng hoang tàn đổ nát, tức cảnh làm bài thơ.

Cổ Lộng thành 
Hoang lũy đồi viên tứ bách thu 
Qua đắng đậu man phóng xuân nhu 
Bích ba dĩ tẩy Trần Vương hận 
Thanh thảo nan tha Mộc Thạnh tu 
Hoàng độc vũ dư canh kiếm cố 
Hàn cầm nguyệt hạ táo hàn lâu 
Phong cương hà dụng cần khai tịch 
Nghiêu Thuấn đương niên chỉ cửu châu

Tạm dịch: 

Thành Cổ Lộng 
Bốn trăm năm thành đổ lũy hoang 
Cỏ chèn dưa đậu buổi xuân sang 
Trần Vương sóng biếc vơi buồn hận 
Mộc Thạnh cây xanh cứ bẽ bàng 
Ruộng cũ gươm han trời mưa nặng 
Đài xưa chim lạnh hót trăng tàn 
Biên cương há phải khuếch trương rộng 
Chín châu Nghiêu Thuấn đủ khang trang 

Danh tướng đa nhân cách 

Ông bà ta thường nói: “Ở bầu thì tròn, ở ống thì đài” – “Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy” cho thấy suy nghĩ thẳng thắn về cách sống đa nhân cách khác biệt giữa văn hóa Việt với các dân tộc khác. Đa nhân cách ở đây không hiểu theo nghĩa sống hai mặt, mà là sống cho hòa hợp, có mục đích tốt đẹp. Với kẻ gian trá, mục đích cơ bản nhất chỉ là lợi ích cá nhân, họ thậm chí sẵn sàng theo giặc, chống lại giống nòi. Đặng Tất lại khác, ông chính là biểu tượng của một danh tướng Việt, có cách sống hài hòa với mục đích rõ ràng vì nước vì dân. 

Sự nghiệp của Đặng Tất gắn liền với những biến cố chủ yếu của lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ 15 trước khởi nghĩa Lam Sơn. Đặng Tất sống giữa nhiều "làn đạn", bên trong thì Trần - Hồ, bên ngoài thì Minh – Chiêm, tùy thời thế ông luôn biết xoay xở cho phù hợp. Dù sống dưới chế độ nào, Đặng Tất luôn hướng về mục tiêu vì lợi ích của đất nước. Cơ nghiệp nhà Trần trước đây đã suy không thể cứu vãn nên ông đứng về phía nhà Hồ. Nhà Hồ thất bại, ông phải tạm hàng Minh để ngăn sự xâm lấn của Chiêm Thành và tạo cơ sở chống Minh về sau. Trong lúc hỗn loạn đó, ông không tử tiết theo nhà Trần như Trần Khát Chân hay tử tiết theo nhà Hồ như Nguyễn Hy Chu và Hồ Xạ, không chạy sang Chiêm như Nguyễn Lỗ, cũng không phục vụ đắc lực cho người Minh để chống lại đồng bào mình như Mạc Thúy, Lương Nhữ Hốt. Ông không khư khư giữ hai chữ "thủ tiết". Ông chọn con đường sống và cũng không sống nhàn cư ẩn dật khi nước mất nhà tan. Giữa thời kỳ muôn vàn khó khăn ở một góc Hoá Châu, tài năng, bản lĩnh và lòng yêu nước của ông được bộc lộ. 

II. Công lớn thành tội vì đâu? 

Giản Định đế muốn thừa cơ đánh ngay vào lấy Đông Quan, nhưng Đặng Tất lại chủ trương đánh xong số quân địch còn sót lại rồi mới tiến. Vua tôi bàn mãi chưa quyết định được, viện binh quân Minh ở Đông Quan đã tiếp ứng cho Mộc Thạnh chạy về cố thủ Đông Quan. Đặng Tất chia quân vây các thành và gửi hịch đi các lộ kêu gọi hưởng ứng đánh quân Minh. 

Do bất đồng về sách lược, Giản Định đế không bằng lòng với Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Nghe theo lời gièm pha, Giản Định đế sợ uy tín của hai người quá cao, lại nghi ngờ họ "có ý khác". Tháng 3 năm 1409, Giản Định đế đóng quân bên bờ sông Hoàng Giang, sai võ sĩ phục dưới thuyền rồi cho triệu hai tướng đến. Đặng Tất bị đâm chết, Nguyễn Cảnh Chân sợ hãi bỏ chạy lên bờ, cũng bị đuổi theo chém chết. 

Con trai hai ông là Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị bất bình vì cha bị giết oan nên đã bỏ đi lập Trần Quý Khoáng làm vua, tức là Trần Trùng Quang Đế. 

Bàn về sự oan uổng của Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân 

Đại Việt sử ký toàn thư dẫn ý kiến của Ngô Sĩ Liên nói: "Đường Thái Tông dùng binh, phần nhiều nhân thế chẻ tre mà giành thắng lợi, là vì có tư thế anh hùng mà tướng và quân vốn đã rèn sẵn. Vua tính kế quyết thắng nhưng Tất không theo, cố nhiên là đáng tiếc. Song có lẽ Tất liệu vua mình không phải là bậc anh hùng như Đường Thái Tông, mà quân thì từ xa đến, lương thực có thể không tiếp tế được, còn quân ở kinh lộ thì chưa tập hợp được, chẳng thà theo phép binh pháp hơn địch gấp 10 lần thì bao vây, hơn địch gấp 5 lần thì đánh là hơn. Nếu không thế thì thành Cổ Lộng chỉ cách Bô Cô không quá nửa ngày đường sao vẫn không thể thừa thế chẻ tre mà đánh. Huống chi thành Đông Quan. Kế ấy cũng chưa lấy gì làm hỏng lắm, chỉ vì vua tin lời gièm mà vội giết Tất thôi. Than ôi, Đặng Tất sau khi phá được giặc mạnh, trổ tài mới trong khoảng một tuần một tháng, công việc chưa làm được một nửa mà bị chết oan, đó là cái họa sụp đổ của nhà Trần, chứ đâu phải là tội của Tất."

Việt Sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ bàn rằng: "Bô Cô ở sông Thanh Quyết, theo thủy triều, đi thuyền 3 trống canh có thể đến Lạc Tràng, đi thẳng lên Đông Đô không đến một ngày, thừa trận được to ấy, mà không tán thành lời quyết định của vua Giản Định, ai chả tiếc là thất cơ. Nhưng mà Tất đã vất vả ở Bố Chính, bị Trương Phụ đuổi ở phía sau, Thế Căng ngăn ở mặt trước, mà phá được Thế Căng, lấy lại Tân Bình, mới điều động được quân ở các trấn Thuận, Quảng, Hoan, Ái, để có quân tiến đánh Đông Đô; Lặn lội hàng tuần đến được Bô Cô, may mà bẻ gãy được gươm giáo của quân Điền và Kiềm, trương thanh thế quân Thanh, Nghệ, còn một bước nữa thì đến Thăng Long, còn gì nữa mà phải dùng dằng không tiến. Tất cả trù tính kỹ lắm rồi, Mộc Thạnh mới sang, xa xôi nghìn dặm, quân bị đói khát mỏi mệt, thoát chết ở Bô Cô là may lắm. Còn Trương Phụ là tay cáo già, như con hổ ngồi nhìn ở Đông Đô. Bây giờ toán quân cô độc của ta xa xôi kéo đến, chưa kể thủ thắng, vạn nhất trước mặt, sau lưng đều có quân địch, ta không có quân, lương cứu viện, có phải là dẫn thân đến chỗ chết không? Cho nên thà nghỉ ngơi để mà điều độ, mới là kế vạn toàn. Tất cũng là trí tướng đấy chứ. Nếu được dùng hết mưu đồ của ông, thì người Minh cũng phải có phen khốn đốn, quyết không dám bảo nước ta không có người. Tiếc thay! Vua Giản Định tự phá hủy bức trường thành của mình đó!" 

Xét cho kỹ, Đông Quan là chỗ quy tụ lòng người, đánh được nơi đó có thể kêu gọi dân trong nước đồng loạt hưởng ứng để tăng uy thế. Tuy nhiên, thực tế từ khởi nghĩa Lam Sơn sau này cho thấy, không nhất thiết phải chiếm cho được Đông Quan vẫn có thể giành thắng lợi sau cùng. Trần Ngỗi muốn "tốc chiến tốc thắng" trong khi Đặng Tất chủ trương "đánh đâu chắc đó". 

Chiến thuật của Đặng Tất sau chiến thắng Bô Cô (chia quân vây các thành và gửi hịch gọi các nơi) chính là chiến thuật mà Lê Lợi sau này đã áp dụng trong giai đoạn cuối của khởi nghĩa Lam Sơn. Lê Lợi nổi dậy đánh quân Minh vang tiếng 10 năm, có trong tay 25 vạn quân, vây bức Đông Quan gần 1 năm nhưng vẫn chủ trương chặn đánh diệt viện binh của Liễu Thăng và Mộc Thạnh trước khiến Đông Quan phải tự hàng, giống chiến thuật của Đường Thái Tông đánh Hạ và Trịnh. Giả sử quân Hậu Trần có thể đánh chiếm Đông Quan nhưng sẽ khó lòng giữ được khi đại quân của mãnh tướng Trương Phụ tiến sang tiếp viện và các cánh quân dưới quyền Mộc Thạnh lão luyện kéo về. Tuỳ hoàn cảnh và thời cơ, việc quân sự có thể vận dụng khác nhau. Đời sau có thể bàn vua Giản Định có lý hay Đặng Tất có lý, nhưng tựu chung cơ nghiệp của Trần Ngỗi vẫn còn cơ hội phát triển nếu không sát hại Đặng Tất. 

Các nhà sử học có lẽ ngại bàn về cái sai quá lớn của vua Trần Cảnh Dị. Nhưng dù sao sự thật cho thấy Cảnh Dị hoàn toàn là kẻ chỉ suy nghĩ nhỏ hẹp trong vài mục tiêu cá nhân, và sẵn sàng phản trắc dẫn đến cái chết oan uổng của Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Cảnh Dị chính là đại diện của sự tăm tối, hiềm khích, chỉ vì sự thỏa thích ý chí cá nhân, đi ngược lại tất cả các nguyên tắc cơ bản nhất trong ứng xử văn hóa, chưa nói đến sự ngu dốt trong cách dùng người và hành quân. Lịch sử còn chưa thể nói rõ hết những kẻ sàm tấu cay độc vì lẽ gì, những kẻ tham lam theo giặc sẵn sàng bày mưu chống lại nhân dân vì lẽ gì. Cảnh Dị là vua mà lại không phân biệt được phải trái, tự biến mình thành kẻ phản bội, giết hại công thần và còn tự đưa mình vào hủy diệt, đưa đất nước lâm vào cảnh nô lệ mấy chục năm trời. Than ôi, những kẻ phản trắc, tị hiềm, sát nhân, bán nước đã có sẵn trong bao trang sử rồi, làm người trung thành với nước với dân cần phải hết sức cẩn trọng mà suy xét. 

Đặng Tất là tướng giỏi nhất của nhà Hậu Trần. Thực tế chiến sự sau khi ông mất cho thấy không có ai xứng đáng thay thế ông. Các danh tướng Đặng Dung con ông, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Suý, Nguyễn Biểu đều có thừa lòng dũng cảm và trung nghĩa nhưng tài năng chưa sánh được với ông. Quân Hậu Trần từ chỗ bị dồn vào Hoá Châu, nhờ một tay Đặng Tất chỉ trong 1 năm đánh như chẻ tre ra Bắc, áp sát Đông Quan; Sau khi ông mất quân Hậu Trần bị thua mãi, bị dồn trở lại tới Hoá Châu và đi đến diệt vong, bản thân Trần Ngỗi cũng phải trả giá đắt.

Danh sĩ Bùi Dương Lịch thời Lê mạt viết về ông trong sách Nghệ An ký như sau: "Nhà Trần đã mất mà khôi phục được tông thống trong 7 năm, sự nghiệp oanh liệt của ông Đặng Tất cùng trời đất bất hủ” 

Tiến sĩ đời Hậu Lê là Sùng Nham hầu Dương Văn An cũng ca ngợi Đặng Tất trong sách Ô châu cận lục: "Đặng Tất là bậc trung nghĩa, trí dũng song toàn, quả là nhân tài của thiên hạ chứ đâu phải nhân tài của riêng Ô Châu này thôi đâu... Cái tiếc của Đặng Tất là vì những lời gièm pha như lưỡi gươm chí mạng khiến chí lớn không thành. Tuy nhiên, cái chết của Đặng Tất đâu phải tội của ông mà chính là nỗi bất hạnh của nhà Hậu Trần vậy. Người quân tử đâu có lấy sự thành bại để đánh giá anh hùng" 

III. Cha tài sinh con quý 

Danh tướng Đặng Dung là con trai cả của Quốc công Đặng Tất. Dưới triều nhà Hồ, ông giúp cha cai quản đất Thuận Hóa. Năm 1409, sau trận đại chiến ở Bô Cô, vì nghe lời gièm pha của bọn hoạn quan Nguyễn Quỹ rằng Đặng Tất chuyên quyền, Giản Định Đế đem lòng ngờ vực đã giết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Đặng Dung tức giận bỏ Trần Ngỗi, cùng Nguyễn Cảnh Dị (con của Nguyễn Cảnh Chân) rước Trần Quý Khoáng từ Thanh Hóa về đất Chi La (nay là huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh) tôn lên ngôi vua (tức Trùng Quang Đế), và ông được giữ chức Đồng bình chương sự. 

Về sau, do nhu cầu cần phải hợp nhất hai lực lượng, các tướng của Trần Quý Khoáng do Nguyễn Súy cầm đầu đã tổ chức đánh úp vào Ngự Thiên, đem Trần Ngỗi về Chi La tôn làm Thượng hoàng.

Phải chiến đấu dưới quyền người đã giết cha mình, nhưng vì sự nghiệp chung ông đã “vượt lên trên tất cả, trước sau vẫn giữ vững phẩm cách đường đường của một vị tướng”. Từ đó ông trải qua rất nhiều trận giao chiến, nổi bật hơn cả là trận đánh vào tháng 9 năm Quý Tị (1413) ở khu vực Thái Gia. 

Sách Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên chép: Đang khi đôi bên quân Nam và quân Bắc đang cầm cự nhau thì Đặng Dung bí mật dùng bộ binh và tượng binh mai phục, đúng nửa đêm thì bất ngờ đánh úp vào doanh trại của Trương Phụ. Đặng Dung đã nhảy lên thuyền của Trương Phụ và định bắt sống Trương Phụ nhưng lại không biết mặt để có thể nhận ra hắn, vì thế Trương Phụ liền nhảy sang thuyền nhỏ chạy thoát. Quân Minh bị tan vỡ đến quá nữa, thuyền bè, khí giới bị đốt phá gần hết, thế mà Nguyễn Súy không biết hợp lực để cùng đánh. Trương Phụ biết quân của Đặng Dung ít nên lập tức quay lại đánh. Đặng Dung đành phải chịu thất bại, quân sĩ chạy tan tác hết. 

Trong khi Đặng Dung biết gác bỏ nỗi đau cha bị giết oan để vì nước chiến đấu thì Trần Ngỗi (Cảnh Dị) vẫn là kẻ ngu dốt nhỏ nhặt, không thể gác bỏ sự tị hiềm vì lợi ích dài hạn của bản thân và dân tộc khiến tướng tài thành vô dụng, trận đánh thắng thành thất bại. Việc không đoàn kết nội bộ, lãnh đạo lại tự lừa lọc, chèn ép, chặt chém người quanh mình một cách cảm tính vô lối biết bao lần đã đem lại những trang sử bi thương. Cách tư duy đó thực nhỏ nhặt và đáng tiếc làm sao! 

Nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần kể: Tháng 11 năm 1413, Đặng Dung cùng Nguyễn Cảnh Dị bị Trương Phụ bắt sống khi đang tìm đường tạm lánh sang Xiêm La để tính kế lâu dài. Vì liên tục lớn tiếng chửi mắng nên Nguyễn Cảnh Dị đã bị Trương Phụ hạ lệnh giết ngay. Còn Đặng Dung cùng Trần Quý Khoáng, Nguyễn Súy và một số tướng lãnh khác bị áp giải về Yên Kinh (Trung Quốc). Dọc đường, Trần Quý Khoáng nhảy xuống biển tự tử, Đặng Dung cũng lập tức nhảy xuống chết theo. 

Nhà sử học Trần Trọng Kim viết: Từ khi thua trận ấy rồi, Trần Quý Khoáng thế yếu quá không thể chống với quân giặc được nữa, phải vào ẩn núp ở trong rừng núi. Chẳng được bao lâu Trần Quý Khoáng, Nguyễn Cảnh Dị, Đặng Dung, Nguyễn Súy đều bị bắt, và phải giải về Yên Kinh. Đi đến giữa đường, Quý Khoáng nhảy xuống bể tự tử, bọn ông Đặng Dung cũng tử tiết cả. Ông Đặng Dung có làm bài thơ Thuật hoài, mà ngày nay còn có nhiều người vẫn truyền tụng. 

IV. Công đức còn mãi trong lòng người Việt: 

Cha con Đặng Tất, Đặng Dung đều hết lòng giúp nước phò vua, tuy không thành công được nhưng sự trung liệt của nhà họ Đặng cũng đủ làm cho người đời sau tưởng nhớ, đến nay còn đền thờ ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh và nhiều nơi khác.

Thi hài Đặng Tất được các con ông mang về chôn ở làng Thế Vinh, huyện Sĩ Vang, ngoại thành Hóa Châu (nay là xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, Thừa Thiên - Huế). Mộ ông nằm ở ven bờ Nam sông Hương, cách bến đò Sình khoảng 3 km và cách thành Hóa Châu khoảng 7km. Dân trong vùng tôn ông làm Thành Hoàng. 

Năm 1428, Lê Lợi sau khi đánh xong quân Minh, ban chiếu cho hai cha con Đặng Tất, Đặng Dung biển vàng tám chữ: "Tiết liệt cương trung - Trung thần hiếu tử"; Truy phong Đặng Tất làm Đại quốc công, Khuông quốc đại vương Thượng đẳng tôn thần; Lại cho lập đền thờ tại quê hương Tả Thiên Lộc và cấp 200 mẫu ruộng lộc điền, giao cho huyện xã hằng năm cúng tế. 

Vua Lê Thánh Tông ban chiếu tặng cha con ông hai câu đối: 

Quốc sĩ vô song, song quốc sĩ

Anh hùng bất nhị, nhị anh hùng 

Câu chuyện về hai ông tuy mang nhiều nỗi buồn nhưng cũng là bài học bổ ích cho con cháu mai sau trong mọi hành trình của cuộc sống, ứng xử, lựa chọn và gìn giữ giống nòi. 

Danh sách cũ hơn