Trang chủThông tin tổng hợpMột đời nặng nghĩa

Một đời nặng nghĩa

Thứ Ba, 28/10/2014

Sau 66 năm kể từ ngày cưới, đoàn anh em con cháu đưa nàng dâu về thăm quê chồng lần thứ 2. Đây có thể là lần cuối nàng dâu Tâm Đặng Wei tuổi 87 về thăm làng Thượng Thọ, xã Thanh Văn, huyện Thanh Chương – nơi cắt rốn chôn nhau của người chồng là liệt sĩ Nguyễn Tài Chất (1919-1946).

Tên khai sinh của bà là Đặng Thị Tâm, sinh năm 1926, quê làng Nho Lâm (nay là xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An), hiện định cư tại Mỹ. Lần này về thăm một chốn đôi quê, bà Tâm đi với người anh trai nổi tiếng Đặng Văn Việt, người 60 năm trước từng là “Hùm xám đường số 4”; em gái là Đặng Thị Dung trú ở TP Hồ Chí Minh và với ngót chục con, cháu, chắt của bà sinh ra lớn lên ở Tây bán cầu và lần đầu về Việt Nam.

Vào dâng hương Nghĩa trang liệt sĩ xã Thanh Văn, ở đây không có mộ phần của liệt sĩ Nguyễn Tài Chất, chỉ có tên liệt sĩ lưu lại trên tấm bia cỡ lớn, vậy mà như có sợi dây vô hình âm-dương không cách biệt, khi bàn tay nhăn nheo của bà dừng ở dòng thứ 45 từ trên xuống, bà cảm nhận tấm bia đá đang hút chặt lấy mình để nhận tiếng nấc nghẹn ngào.

 

Bà Đặng Thị Tâm.

Về Nhà thờ chi họ Nguyễn Tài dâng hương có di ảnh liệt sĩ đặt thờ trong đó, anh Nguyễn Tài Dũng-Chủ tịch Công đoàn ngành Công thương Nghệ An nói nhỏ vào tai tôi: “Liệt sĩ Nguyễn Tài Chất chỉ có bức ảnh duy nhất để lại trên đời. Cách đây 2 năm bà Tâm giật mình, tuổi “trái chín cây” sợ rơi rụng lúc nào không biết, bà gửi di ảnh người chồng về Nhà thờ “để anh ấy vĩnh viễn ở bên các tiền nhân Chi họ Nguyễn Tài”.

Giữa rưng rức khói hương, rưng rức tình cảm máu thịt ruột rà của anh em nội tộc nhà chồng, bà Tâm nghẹn ngào chắp nối những mẩu ký ức xa xăm về lớp trí thức Xứ Nghệ đi làm cách mạng, những kỷ niệm càng quá vãng, chất vàng ròng trong họ lại càng tỏa sáng. Họ, con em của những nhà có học, được trui rèn từ “lò” gia tộc-gia phong, học hành tử tế, vốn chữ nghĩa đủ dùng cho việc nhìn nhận đúng, lựa chọn đúng con đường cứu nước cứu nhà-tố chất cao đẹp nhất của tuổi trẻ Việt Nam.

Đặng Văn Việt, Đặng Thị Tâm là sản phẩm của một “lò” như thế.

Ông nội của họ là Hoàng giáp Đặng Văn Thụy biên soạn nhiều bộ sách quốc gia, dịch nhiều sách chữ Nho ra quốc ngữ; Thân sinh là ông Đặng Văn Hướng đỗ Phó bảng năm 1919, nguyên Bộ trưởng đặc trách Thanh-Nghệ-Tĩnh của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Là đôi bạn chí cốt, Nguyễn Tài Chất, Đặng Văn Việt học xong Quốc học Huế đều thi vào Đại học Y Hà Nội, cặp sinh viên quê xứ Nghệ sớm tham gia phong trào hướng đạo sinh do Việt Minh tổ chức, lãnh đạo. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945) trường Y đóng cửa, hai anh xếp bút nghiên lao vào dòng thác giải phóng dân tộc. Bấy giờ cô Tâm cũng học xong trường Đồng Khánh (Huế), trở về quê tham gia dạy bình dân học vụ tại làng. Cô Tâm đẹp người đẹp nết, tiếng là con nhà “quan” nhưng cô ham học chăm làm, được xóm làng thương mến, vì vậy cô lọt vào mắt xanh người bạn chí thân của anh trai. Đốc-tờ Chất là con cụ Nguyễn Tài Đức gia đình Hán học nhưng “nghèo rớt mồng tơi”. Ngày 18-6-1946 tại làng Thượng Thọ, hai gia đình tổ chức đám cưới cho cặp gái sắc trai tài.

Cưới vợ hôm trước, hôm sau anh Chất phải trở ra Quân y viện Hà Nội, cô Tâm ở lại làm dâu được 2 ngày thì cụ Tài Đức bảo: “Chất mới ra trường, công việc còn nặng gánh lắm, con nên ra Hà Nội chăm sóc bữa ăn giấc ngủ cho chồng, ở nhà bố mẹ đã có anh em họ hàng giúp đỡ”.

Chỉ được 2 ngày ở với bố mẹ chồng tại quê chồng, cô Tâm khăn gói ra Hà Nội.

Dịp ấy anh Việt cũng về quê cưới vợ người Huế, con ông Thượng thư triều đình Huế, tên là Lan Huê, cùng học trường Đồng Khánh, là bạn thân của cô Tâm. Cưới vợ mà không có đêm tân hôn vì Trường võ bị Trần Quốc Tuấn điện anh Việt phải ra ngay làm nhiệm vụ. Cho nên cô Tâm trước khi ra Hà Nội có về làng Nho Lâm một tuần để động viên bạn gái-chị dâu. Chẳng hiểu sao cô Tâm ra đi hôm trước, hôm sau cô Lan Huê xin phép về thăm bố mẹ ở Huế và không trở lại nữa.

Di ảnh liệt sĩ Nguyễn Tài Chất.

Làm “sếp” Quân y viện mà đốc-tờ Chất nghèo ơi là nghèo, cứ 6 giờ anh đã có mặt tại Quân y viện sớm hơn mọi người. Anh đến sớm để lên tầng 4 hái hoa ti-gôn mang về phòng tặng vợ! Ngày đó chú em Nguyễn Tài Cẩn ra Hà Nội ở với anh Chất chị Tâm, nhà 3 người mà cái nồi nấu cơm nhỏ xíu phải nấu 2 lần mới đủ ăn. Chị Tâm đủ tiền mua được 2 quả chuối phải cắt làm 3!

Vợ chồng sống với nhau được 6 tháng thì Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Vẫn nhớ như in Nhà thương Phủ Doãn nơi anh Chất làm việc, liền kề với “trường bà xơ”, mấy hôm trước quân ta đã đục bỏ các bức tường liền kề giữa nhà thương và trường để tạo hành lang liên thông nhau. Chập tối 19-12-1946 nhà thương không còn bệnh nhân, chỉ có mấy sản phụ nằm chờ “khai hoa”. Bỗng rất đông người già, trẻ em ùn ùn kéo vào lánh nạn. Để đảm bảo an toàn cho mấy sản phụ, anh Chất bảo các nhân viên y tế chuyển hết sản phụ sang phòng của vợ chồng mình, bố trí những sản phụ sắp đến giờ “hoa nở” nằm ở phía ngoài, những sản phụ “hoa nở ” chậm hơn được đưa vào bên trong để tránh lính Tây đến lục soát quấy nhiễu.

Suốt ngày 19-12 hai vợ chồng ngập trong công việc, chập tối cả hai tạm ngả lưng dưỡng sức. Đốc-tờ Chất nằm chờ cho vợ ngủ rồi lẳng lặng dậy khoác blu trắng, xách túi đồ nghề ra đi. Anh chưa kịp ra khỏi phòng, cô Tâm liền bật dậy:

– Anh phải cho em đi cùng.

Vừa nói cô khoác vội chiếc túi cứu thương in ký hiệu Hồng thập tự theo chồng. Hai người đang đi dọc con đường về phía hồ Ha-le (hồ Thiền Quang), dưới ánh điện lờ mờ họ nhận ra một chiến sĩ vệ quốc đoàn bị thương đang nằm quằn quại bên đường. Hai vợ chồng quỳ xuống bên người chiến binh sơ cứu vết thương. Đang tập trung cứu người thì từ cửa sổ tầng hai của tòa nhà gần đó, địch nã đạn vào anh Chất. Trong màn đêm, chiếc áo blu anh Chất khoác trên người bỗng thành “tấm bia màu trắng”.

-Tâm ơi anh bị chúng bắn rồi!

Ôm trọn thân hình đầm đìa máu của chồng, cô Tâm hướng về phía địch hét to bằng tiếng Pháp:

– Chúng tôi là thầy thuốc đang cứu người, tại sao các ông bắn chúng tôi?

Hai lính Pháp từ trên tòa nhà chạy xuống “xin lỗi”, rồi chúng đưa anh Chất vào ngôi nhà cạnh đường, Tâm cởi bỏ áo blu, lớp áo bên trong của anh đầm đìa máu. Anh không nói được gì, Tâm ngất lịm bên chồng.

Cô Tâm tỉnh dậy thấy mình đang nằm trong một căn phòng của nhà lao, qua tấm biển hiệu mới biết căn phòng này dành cho những người mang túi Hồng thập tự. Giam cùng phòng có 3 cô người Việt khoảng 16, 17 tuổi đều không biết chữ, đều lấy chồng là sĩ quan Nhật nên bị Pháp bắt giam. Vì không muốn mang tiếng đầu hàng, một số sĩ quan Nhật tạo “bùa hộ mệnh” bằng cách lấy vợ Việt để được ở lại Việt Nam, để được Việt Minh đối xử theo chính sách tị nạn chiến tranh.

Tìm tên liệt sĩ Nguyễn Tài Chất trên bia tại Nghĩa trang liệt sĩ xã Thanh Hương (Thanh Chương, Nghệ An).

Ngày 2-1-1947 tức sau 12 ngày bị bắt giam, Tâm mới được thả ra.

Trở về nhà thương Phủ Doãn không gặp ai, cô về nhà chị ruột nay là khu vực đường Minh Khai-Chợ Mơ. Hôm sau mấy anh chị em đi dò hỏi tìm nơi địch chôn đốc tờ Chất, cuối cùng vào nghĩa trang Hợp Thiện phát hiện ra chiếc áo màu xanh của anh bị bỏ lại trên mặt đất, mới biết trong ngôi mộ chung gồm mấy chục người có Chất. Mấy anh chị em đào mộ lấy thi hài anh Chất lập mộ riêng và xây cất tử tế. Suốt một năm trời Tâm vật vờ như cái bóng, sau đó cô xin thi vào lớp đào tạo tiếng Hoa để khi ra trường dạy tiếng Hoa.

Lăn lóc kiếm sống giữa Hà Nội để chăm nom mộ chồng, năm 1952 góa phụ trúng tuyển đi du học tại Thụy Sỹ chuyên ngành Tâm lý giáo dục. Suốt 10 năm “quên đời” với cảnh thuyền không lái, năm 1956 nữ tiến sĩ người Việt tái giá với ông Michacl May Quang Wei (1928-2007) gốc Đài Loan, quốc tịch Mỹ, chuyên gia về đậu nành. Bà Tâm thành người Mỹ gốc Việt từ đó.

Năm 1969 vợ chồng bà về thăm cụ Nguyễn Tài Đức đang sống cùng vợ chồng chú Nguyễn Tài Cẩn tại Hà Nội. Sau đó cụ Tài Đức mấy lần gửi thư động viên con dâu gắng quên chuyện cũ để chăm lo cho hạnh phúc hiện có.

Làm sao quên được nỗi đau của đời mình! Thành vợ thành chồng rồi mà anh vẫn nhỏ nhẹ: Nhà không có em gái nên anh không hiểu nhiều về phụ nữ. Vợ chồng sống với nhau có điều gì không phải mong em góp ý chân thành để anh chỉnh sửa hoàn thiện mình. Nhắc lại mà thương anh Chất quá đi thôi.

Nguồn QĐND