Trang chủDi tíchChùa Trung Tiết

Chùa Trung Tiết

Thứ Hai, 06/10/2014

Chùa Trung Tiết (còn gọi là chùa Tuyết) nằm ở thôn Nghĩa Hưng, xã An Sinh, thuộc Khu di tích nhà Trần ở Đông Triều. Tên của ngôi chùa gắn liền với cuộc đời của hai vị bề tôi dưới thời nhà Trần lúc bấy giờ.

Đại diện lãnh đạo xã An Sinh và sư trụ trì chùa Trung Tiết đón nhận bằng xếp hạng di tích.

Dưới thời vua Anh Tông, vị vua thứ 4 của triều Trần trị vì đất nước, hai cận thần của triều đình là Đặng Tảo và Lê Chung đã dựng chùa, phụng thờ chăm lo hương hoả, lăng miếu của vua Trần Anh Tông, được coi là lăng miếu vua Trần đầu tiên được xây dựng tại quê hương của dòng tộc nhà Trần. Tấm lòng son sắt, trung quân ái quốc của hai ông được vua Trần Nghệ Tông tưởng nhớ thờ tự ngay tại vùng đất mà hai ông sinh sống trong thời gian trông coi phần lăng miếu vua Trần Anh Tông và đặt tên chùa là Trung Tiết, ý nói lên sự trung thành tiết độ của hai ông. Theo Đại Việt sử ký toàn thư  thì Đặng Tảo đạt trình độ học vấn thái học sinh (tiến sĩ), thuộc bậc đại khoa. Trong chế độ phong kiến, được trực bên cạnh vua để viết di chiếu phải là người có lòng trung thành, đức độ, tài năng ở mức "ưu tú". Khi vua Anh Tông mất chỉ có quốc phụ (em trai vua Anh Tông, Trần Quốc Chẩn, có công lớn cùng các tướng lĩnh nhà Trần đánh giặc Chiêm Thành, được triều đình phong chức Nhập nội Quốc phụ Thượng tể - Chức quan đầu triều coi giữ Lục bộ thượng thư), Đặng Tảo và Lê Chung tham gia việc này. Khi đưa di hài về táng ở Yên Sinh (tức An Sinh - tác giả), hai ông dời cả mồ mả tổ tiên đem gia quyến vợ con chuyển về đây. Hàng năm, vua bái yết sơn lăng, ông thường lánh đi chỗ khác, chỉ có ý nguyện ở lại phụng thờ lăng tẩm chứ không đòi gì khác. Đặng Tảo và Lê Chung được chính sử dành 240 chữ ghi chép, được hai vị vua Nghệ Tông đời Trần và vua Bảo Đại thời Nguyễn tôn vinh công trạng, tên được ghi trong sử, được khắc vào bia đá.

Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại việc này như sau: Thái học sinh Đặng Tảo thường đứng hầu bên giường ngự để viết di chiếu. Anh Tông băng, vua đích thân khâm liệm. Chỉ có quốc phụ cùng Tảo và gia nhi chủ đô là Lê Chung tham gia việc này. Đến khi rước linh cữu về sơn lăng, Tảo, Chung đều tới hầu lăng tẩm (…). Vua thương Tảo nghèo ban cho 20 mẫu ruộng, sai Trần Thế Hưng mang giấy cho. Ruộng này trước kia đã ban cho thứ phi của vua là Thiên Xuân. Thiên Xuân cứ giữ giấy cũ mà cày cấy, thế mà Tảo cũng không tranh chấp với bà. Thế Hưng biết chuyện, tâu thực với vua. Vua lập tức thu lại giấy của Thiên Xuân, đem ruộng trả cho Tảo, Tảo cũng chẳng lấy làm mừng. Chung thì dời mồ mả tổ tiên, bán ruộng đất, nhà cửa, đem gia quyến vợ con đến Yên Sinh, chôn cất và làm nhà ở đấy. Cả hai người đều ở Yên Sinh cho đến khi mất. Sau này Nghệ Hoàng tới Yên Sinh, tưởng nhớ hai người bề tôi đó, liền sai Trần An trùng tu chùa cũ của Tảo và Chung, lại cấp ruộng để thờ cúng, ban tên chùa là chùa Trung Tiết.

Trong Đại Nam nhất thống chí, quyển XVII, phần chùa quán viết: Chùa Trung Tiết ở xã Yên Sinh huyện Đông Triều. Đời Trần Minh Tông bọn Thái học sinh Đặng Tảo và Lê Chung chầu chực ở lăng tẩm Yên Sinh, dựng chùa để ở suốt đời. Sau Nghệ Tông tưởng nhớ hai người này, sai sửa lại chùa, cấp cho ruộng thờ và cho tên là chùa Trung Tiết.

Lịch sử dân tộc Đại Việt có không ít những con người thể hiện tấm lòng trung quân ái quốc, song với hai vị bề tôi dưới thời Trần là Đặng Tảo, Lê Chung đã tận tụy, cần mẫn, son sắt một mực vì vua, vì nước mà quên đi lợi ích của bản thân, gia đình, đã để lại nét đẹp trong truyền thống văn hoá, đạo lý của người dân Đại Việt, đáng để tôn vinh, trân trọng, ca ngợi, như theo ý nghĩa tên gọi mà vua Trần Nghệ Tông đã đặt cho ngôi chùa tại vùng đất An Sinh, Đông Triều.

Nguyễn Trung Dũng (BQL các di tích trọng điểm)

 

Chùa Trung Tiết xứng danh Quốc tự

Chùa Trung Tiết theo truyền tụng qua nhiều đời thì rất to, bề thế, tới một trăm gian, tọa lạc trên một quả đồi, vùng đất Yên Sinh xưa. Có vị vua từng khen chùa đẹp như một viên ngọc. Ngày nay cổ tự thuộc xóm Chùa, thôn Nghĩa Hưng, An Sinh, Đông Triều, Quảng Ninh.

Từ năm 1962, chùa Trung Tiết đã được xếp hạng Di tích văn hóa - lịch sử quốc gia. Rải rác trong khuôn viên di tích vẫn còn thấy những viên ngói thời Hán, đá tảng đời Trần, những viên gạch đỏ khắc chữ Hán Vĩnh Ninh tràng (gạch đời Đinh, 968 - 980), kích thước 42 x 42cm… Đặc biệt, trong nhà Tổ còn lưu giữ tượng thờ cổ, như tượng vua Trần Anh Tông, tượng Đặng Tảo, tượng Lê Chung - hai danh thần đời Trần. Xin nói thêm, trong nhà thờ họ tộc Đặng Tảo và Lê Chung cũng có những tượng thờ như vậy. Đáng lưu ý, tại chùa có 2 bia đá, một bia bị nắng mưa bào mòn, không đọc được văn bia, bia kia tên là Trung Tiết tự bi ký (Văn bia chùa Trung Tiết).

Ngày xưa, trước cửa chùa có hồ Đập Rau, theo dân gian, rộng tới 2.000 mẫu (?), trong hồ nổi lên 3 quả đồi nhỏ, người ta gọi là Tiểu tam sơn. Hồi ấy, đường vào chùa ven bên bờ hồ, nay phải đi vòng theo lối đi của xóm. Sau chùa, cách chừng 2km theo đường chim bay là khu lăng mộ vua Trần Anh Tông, xa hơn một chút là núi Ngọa Vân, trông như ngọn tháp bút. Cách chùa Trung Tiết không xa là chùa Quỳnh, nơi Thiền sư Pháp Loa, Tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm, từng tu trì nhiều năm. Từ đây, nhìn tới chùa Đồng trên núi Yên Tử và nhìn về chùa Thanh Mai ở Chí Linh, Hải Dương, những hôm trời trong trông rõ bóng chùa, còn thường ngày chỉ thấy trập trùng mây vờn núi... Như vậy mới hiểu, vào thời Trần, đất này đã là trung tâm Phật giáo quan trọng của nước Đại Việt.

Theo một số thư tịch cổ, trong đó có sách Đại Việt sử ký toàn thư, tên chùa Trung Tiết là do Nghệ Hoàng (Vua, Thượng hoàng Trần Nghệ Tông) ban. Bia chùa Trung Tiết dựng đời Nguyễn, hiện đặt trước sân nhà Tổ của chùa. Rất đặc biệt, Trung Tiết tự bi ký có khắc cả bài ngự bút Hoàng triều Tự Đức ngự chế tổng vịnh. Bài tổng vịnh của vua Tự Đức viết khá chi tiết về hai danh thần nhà Trần được thờ trong chùa là Đặng Tảo và Lê Chung. Xin trích một đoạn: “...(Trần) Anh Tông ở ngôi 21 năm, Thiền vị, Hoàng thái tử Hoảng, mất ở cung Trùng Quang. Khi bệnh chuyển nặng, Đặng Tảo thường đứng hầu bên giường ngự để viết di chiếu. Anh Tông băng, vua Minh Tông đích thân khâm liệm. Lúc đó chỉ có Trần Quốc Chẩn, Đặng Tảo và Gia nhi của chủ đô Lê Chung tham gia việc ấy. Khi an táng vua Anh Tông ở Thái Lăng tại Yên Sinh, Đặng Tảo, Lê Chung đều tới hầu lăng tẩm. Lúc vua đến bái yết lăng, Đặng Tảo thường lánh đi chỗ khác, chỉ có ý nguyện phụng thờ lăng tẩm mà thôi, không mong muốn điều gì hơn. Vua thương Đặng Tảo nghèo, ban cho 20 mẫu ruộng, sai Trần Thế Hưng mang giấy cho. Ruộng đó vốn khi trước đã ban cho thứ phi của vua là Thiên Xuân. Bà Thiên Xuân cứ giữ giấy cũ, cho người nhà cày cấy. Vua biết việc, cho thu hồi giấy của Thiên Xuân. Thiên Xuân phải trả ruộng cho Đặng Tảo, Đặng Tảo chẳng lấy làm mừng...

Lê Chung cho dời mồ mả tổ tiên đến chôn cất tại Yên Sinh, bán ruộng đất, nhà cửa, mang gia quyến, vợ con đến Yên Sinh cất nhà sinh sống. Cả Đặng Tảo và Lê Chung đều sống tại Yên Sinh cho đến khi qua đời. Sau này, vua Trần Nghệ Tông đến Yên Sinh, nhớ tới hai người bề tôi đó, liền lệnh cho trùng tu nhà thờ cũ của Đặng Tảo và Lê Chung thành chùa, cấp cho ruộng thờ cúng, và ban cho tên là chùa Trung Tiết...”.

Qua văn bia Trung Tiết tự bi ký, người đời được biết Đặng Tảo là một nhà khoa bảng lớn (đã đỗ Thái học sinh). Hơn nữa, là một thần tử với tài năng, đức độ vào hạng “ưu” mới được trực bên giường bệnh của nhà vua để viết di chiếu, chứng tỏ Đặng Tảo là một nhân vật đáng lưu danh hậu thế. Thực tế lịch sử cũng đã cho thấy, những hành xử trong cuộc đời Đặng Tảo và Lê Chung được biên chép vào chính sử tới 240 chữ, được khắc vào bia đá, được tôn phong là bậc thần (thánh) và được dân chúng truyền đời thờ phụng.

Chùa Trung Tiết tọa lạc trên một thế đất đệ nhất thắng cảnh, nằm trong vùng phúc địa danh tiếng, đất phong của An Sinh vương Trần Liễu, thân phụ của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Chùa đã được vua Trần Nghệ Tông ban tên, được người đứng đầu triều đình hạ lệnh cấp kinh phí trùng tu, cấp ruộng để duy trì nghi thức cúng tế từ đời này sang đời khác; và 6 thế kỷ sau, vua Tự Đức, triều Nguyễn, đã ngự bút viết bài tổng vịnh, khắc vào bia đá, ghi lại tâm đức các vị thánh nhân được thờ phụng trong chùa... Trải nắng mưa lịch sử và binh hỏa của hơn 600 năm, từ năm 1962, chùa Trung Tiết trở thành một trong bốn di tích được xếp hạng Di tích văn hóa - lịch sử quốc gia. Có thể nói, dẫu không còn bề thế như thuở xa xưa, nhưng chùa Trung Tiết vẫn xứng danh Quốc tự!

Anh Chi