Trang chủDi tíchĐền Tiến Truật thờ Thái úy Đặng Thiện Thành (1112-1185)

Đền Tiến Truật thờ Thái úy Đặng Thiện Thành (1112-1185)

Thứ Năm, 05/11/2015

Từ nhỏ Đặng Công Tử đã thông minh, học giỏi, thiên hạ suy tôn “ thần đồng”. Ông đỗ Thái học sinh khoa Canh Thân, niên hiệu Đại Định, đời vua Lý Anh Tôn (1138). Buổi đầu ông làm quan chức nhỏ, sau tăng lên chức Kinh kỳ chưởng sự, rồi lên Điện tiền Đô chỉ huy sứ. Cuối đời ông được thăng chức Thái úy.

Tên di tích: Đền Tiến Trật

Loại di tích: Lịch sử

Quyết định: Được công nhận di tích theo quyết định số 43/1999/QĐ-BVHTT ngày 12 tháng 7 năm 1999

Địa chỉ di tích: Thôn 5 Tiến Trật - Đô Lương - Đông Hưng – Thái Bình

Làng Tiến Trật xưa có tên là Tiến Lộc, đầu triều Nguyễn vì kiêng húy (Bá Đa Lộc) nên đổi thành Tiến Trật; thuộc tổng Xích Bích, huyện Tiên Hưng, nay nhập với Phú La thành xã Đô Lương huyện Đông Hưng.

Theo truyền thuyết, nguyên đền xưa là ngôi miếu làng, đến thời Lê được mở rộng. Đời Vĩnh Khánh ngôi miếu được đại tu và đến năm 1890 dân làng lại tu bổ lần nữa. Hiện trạng di tích vẫn còn từ đó đến nay.

Thần tích của làng chép: dưới triều Lý có cụ Đặng Hinh quê gốc ở Sơn Tây, làm quan trong triều vào hàng “quốc công”. Ngày 6 tháng 7 năm Nhâm Dần (1112) Quốc Công sinh ra Đặng Thiện Thành. Từ nhỏ Đặng Công Tử đã thông minh, học giỏi, thiên hạ suy tôn “ thần đồng”. Ông đỗ Thái học sinh khoa Canh Thân, niên hiệu Đại Định, đời vua Lý Anh Tôn (1138). Buổi đầu ông làm quan chức nhỏ, sau tăng lên chức Kinh kỳ chưởng  sự, rồi lên Điện tiền Đô chỉ huy sứ. Cuối đời ông được thăng chức Thái úy.

Năm 1150 quân Chiêm Thành hai lần đánh chiếm Nghệ An, năm 1152 vua Anh Tôn cử tướng Lý Mông vào đánh Đồ Bân, đưa Tạ Diệp làm vua nước Chiêm. Người Chiêm nổi dậy giết Tạ Diệp, quan hệ Việt – Chiêm trở nên quyết liệt.

Đầu năm Đinh Hợi (1167), Lý Anh Tôn xuống chiếu tuyển hoàng nam tứ trấn, bổ sung quân đội, lại sai các đại thần về các phủ huyện phủ dụ phụ lão, trai tráng. Bấy giờ Đặng Thiện Thành đang giữ chức Điện Tiền đô chỉ huy sứ được vua sai đi kinh lãm các hạt thuộc phủ hộ Long Hưng. Đoạn này thần tích đền Tiến Trật chép: Đêm ấy Lý tướng công vào nghỉ ở miếu Tiến Lộc, nửa đêm thấy điệu vũ sáng lòa, một cụ già đầu râu tóc bạc như cước đến cửa quân thưa rằng: Ta là con cháu Hùng Vương, được làm phúc thần làng này, nay biết tướng quân đi mộ binh giúp vua dẹp giặc, lão nhân xin nguyện được âm phù. Hôm sau Đặng tướng quân đi khảo sát một lượt, cho xây dựng đồn sở Tiến Trật. Trai lão trong hương ấp đem rượu, thịt đến quân doanh úy nạo binh sĩ, xin cho con em được đầu quân và nguyện làm thần tử. Đặng tướng quân đã tuyển 20 hoàng nam trong ấp vào quân ngũ.

Tháng 7 năm Đinh Hợi (1167) Lý Anh Tôn sai thái úy Tô Hiến Thành làm đại tướng quân đi đánh giặc Chiêm. Điện tiền Đô chỉ huy sứ là tướng tâm phúc được theo Thái úy Nam Chinh. Quân ta thắng lớn, vua Chiêm phải dâng sớ xin hòa và dâng lễ vật lên vua Anh Tôn xin tha tội.

Sau chiến thắng năm Đinh Hợi, hết kỳ quân dịch, cả 20 trai làng được lần lượt giải ngũ, được vua cấp binh điền về quê làm ăn giàu có. Đặng Thiện Thành được vua phong chức Thai úy. Ngày 6 tháng 7 năm Bính Thân (1185) Thái úy Đặng Thiện Thành tạ thế. Thể theo nguyện vọng của hương lão và 20 nghĩa sĩ làng Tiến Lộc, lại theo chúc thư quan Thái úy, Hoàng đế đương triều Lý Cao Tôn xuống chiếu cho làng Tiến Lộc thờ Thái úy Đặng Thiện Thành.

Như vậy, theo thần tích đền Tiến Trật thì đền nay thờ Thái úy Đặng Thiện Thành. Sau khi các nghĩa sĩ Trang Tiến Lộc qua đời, dân làng còn lập miếu thờ ngay cạnh ngôi đền. Có bảng liệt vị nghĩa sĩ Nam Chinh bình Chiêm. Ngôi đền là một di tích ghi nhận sự đóng góp của Trang Tiến Lộc đầu quân chống Chiêm Thành.

Đền Tiến Trật là một quần thể kiến trúc lớn, tọa lạc trên một gò đất cao, tiền có gò Chu Tước, hậu có gò Huyền Vũ, bên phải là gò Bạch Hổ, nam có gò Thanh Long. Quy mô xây dựng của đền gồm 3 khu: Cổng Hoành mã, đền , miếu và lăng tưởng niệm các nghĩa sĩ.

Cổng hoành mã đền hoành tráng, chạy dài 18m có tả môn, hữu môn, trung quan. Nối các cổng và các trụ biểu là bức tường hoa đắp gấm toán tử hoặc chạy con song. Chính giữa trung quan xây bức cuốn thư làm bình phong tạo thành một tắc môn. Cuốn thư phía trên đắp rồng chầu, giữa đắp đỉnh lớn, cách đắp chữ thọ, bệ tiền đắp bạch hổ. Hai cổng tả môn, hữu môn xây chồng diêm, hồi đắp phù điêu long – phụng, đao đắp song loan. Các trụ biểu đắp quả găng, lồng đèn, búp sen lá lật.

Đền Tiến Trật gồm 2 cung, tất cả 8 gian. Tòa bái đường 5 gian xây theo kiểu tàu đao chéo góc: đại bờ soi chỉ kép, đắp nổi hoa chanh, hai đầu có ngư long ngậm đại bờ. Góc bờ cánh soi chỉ kép, đắp đấu lại có nghê chầu, đao đắp rồng chầu phượng mớm. Hiên trước, bẩy trạm văn mây lá lật, hai gian giáp hồi xây tường gạch, trổ cửa chữ thọ, quét vôi trắng. Ba gian giữa lắp ngưỡng kép, bạo kép đóng cánh cửa ô khung khách.

Nội thất tòa này các vì đều chồng rường theo kiểu lòng thuyền tứ trụ. Các vì đều chạm văn mây, đấu sen. Riêng hai vì giữa lắp cốn chạm lá hóa rồng. Tòa bái đường còn nhiều dấu tích kiến trúc thời Lê còn lại như đầu dư, nghé bẩy. Đặc biệt còn sáu tòa cửa võng đều được chạm lưỡng phượng triều thư, hoặc trúc, cúc cài văn triện, lưỡng long triều nguyệt.

Tòa cung cấm tiếp theo tòa bái đường là một hiên nhỏ trên có máng thượng tạo ra một hành lang ngăn cách giữa hai tòa. Hậu cung xây 3 gian xây theo kiểu hồi văn cánh bảng, hiên xây tường gạch, trổ 3 cửa đại. Nội thất đơn giản, cấu trúc theo kiểu kèo cầu quá giang vượt, bào trơn đóng bén.

Lăng miếu: Lăng miếu các nghĩa sĩ ở phía trước đền, cách chừng 50m về phía tây-nam, nằm khiêm tốn trong vườn cây ăn quả. Miếu gồm một gian, xây tường hồi bít đốc, trong nhà xây một bệ thờ, giữa có một khám lớn, lòng khám ghi bằng chữ Hán tên 20 nghĩa sĩ làng Tiến Lộc đã theo tướng Đặng Thiện Thành bình Chiêm.

Về cổ vật, đền Tiến Trật còn lưu giữ được hàng trăm hiện vật nhưng đáng chú ý nhất vẫn là các đạo sắc phong thời Lê Cảnh Hưng, 3 tấm bia đá ghi công đức của các đệ tử sửa đền vào năm Thành Thái thứ 2, tôn tạo đền vào năm Bảo Đại thứ 9; Nhang án thờ cổ rối, ô sa, chạm tứ quí, tứ linh, sơn son thiếp vàng.

Đền Tiến Trật là nơi tưởng niệm viên Thái úy thời Lý cùng với các nghĩa sĩ có công giúp vua chống giặc Chiêm Thành, và với kiến trúc to lớn và hoành tráng của nó.

http://ditichlichsuvanhoa.com