Trang chủDi tíchĐền Từ Hạ (Thánh Cả) thờ Đặng Chân, Trịnh Thị Khang và Đặng Trí

Đền Từ Hạ (Thánh Cả) thờ Đặng Chân, Trịnh Thị Khang và Đặng Trí

Thứ Sáu, 06/11/2015

Đền Từ Hạ thờ ba vị Thành hoàng làng là Đặng Chân, Trịnh Thị Khang và Đặng Trí có công giúp vua Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân vào thế kỉ X. Lịch sử của ba vị Thành hoàng làng được ghi trong thần tích và bia kí. Di tích còn 8 đạo sắc phong thời Nguyễn và một số câu đối, cuốn thư ca ngợi công trạng của các vị Thành hoàng.

Đã xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định của Bộ trưởng Bộ Văn hoá thông tin số 04/2001/BVHTT ngày 19/01/2001.

Địa chỉ: xã Thanh Bính – huyện Thanh Hà – tỉnh Hải Dương

Theo thần tích, khu vực xã Thanh Bính vào thế kỉ X gọi là trang Hạ Hoành, huyện Bình Hà, lộ Hải Dương. Tên di tích gắn liền với tên làng xã trong quá trình hình thành. Đền lập để thờ vị tù trưởng, có công với cộng đồng làng xã nhân dân gọi là đền Thánh Cả với ý nghĩa tôn vinh vị thành hoàng làng.

Đền Từ Hạ thờ ba vị Thành hoàng làng là Đặng Chân, Trịnh Thị Khang và Đặng Trí có công giúp vua Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân vào thế kỉ X. Lịch sử của ba vị Thành hoàng làng được ghi trong thần tích và bia kí. Di tích còn 8 đạo sắc phong thời Nguyễn và một số câu đối, cuốn thư ca ngợi công trạng của các vị Thành hoàng.

Tại trang Hạ Hoành, huyện Bình Hà, lộ Hải Dương có một nhà tù trưởng giàu có, họ Đặng, tên Chí, vợ người bản trang, tên là Thị Sinh, sinh được một cậu con trai, đặt tên là Chân. Đặng Chân là một người văn võ toàn tài. Sau khi cha mẹ qua đời, Công hành lễ an táng tại bản trang. Khi mãn tang, Công liền đi du chơi thiên hạ, đến chùa Mảnh gặp nữ nương Trịnh Khang, là một nữ tu hào kiệt, văn tự tinh thông, quê ở trang Vĩnh Toàn, phủ Khoái Châu, tỉnh Sơn Nam đang chọn người tài để kết duyên chồng vợ. Ngay đêm hôm đó, nương mộng thấy như cùng Chân Công chăn gối và bà thụ thai, ngày tròn tháng đủ, bà sinh một cậu con trai khôi ngô tuấn tú. Chân Công nhận làm cha và Khang nương làm mẹ cùng cung dưỡng câu bé trưởng thành.

Bấy giờ nước ta có loạn 12 sứ quân nổi lên khắp nơi. Đinh Bộ Lĩnh xuất hịch truyền tìm người tài giỏi đến nhận quan tước để dẹp giặc. Công và con trai cũng đến. Chân Công được phong là “Đại tướng quân”, lãnh binh theo đường bộ, nam tử lãnh binh tiến theo đường thuỷ cùng phối hợp. Khang nương và nam tử cùng chỉ huy quân thuỷ. Loạn 12 sứ quân được dẹp yên. Hoàng đế mở tiệc chúc mừng phong tặng cho Chân Công “Quyền chưởng tả đạo binh nhung” kiêm “ Tham tán mưu sự”. Phong cho nam tử là “Thái Bảo tiền quân” tái mệnh danh là Trí; phong Khang nương là “Mẫu nghi thiên hạ”. Nhận phong xong, ba người trở về hương quán, hai công hoá tại đây, ngày 8/11 Khang nương cũng qua đời. Nhân dân làm biểu tâu lên vua, vua sai sứ về hành lễ điếu tang và bao phong mỹ tự, tặng sắc và sai dân lập miếu phụng thờ.

Triều đình khen tăng mỹ tự “Bản quốc Thành hoàng Yên Hạ hiển ứng Đại vương”, “Đương cảnh Thành hoàng quan sát đại vương”. Tặng Thánh Mẫu “Bồ Tát phật Túc Thanh công chúa”, phụng thờ tại chù bản xã.

Về sau được các triều đại tặng phong “Bản cảnh Thành hoàng linh phù chi thân”. Tái gia tặng “Dực bảo trung hưng linh phù chi thần”.

Nhân dân bản trang tôn các vị là Thành hoàng làng và kiêng tên huý, Đặng Chân được gọi là Đức Thánh Cả, Đặng Trí được gọi là Đức Thánh Tử (con), Trịnh Thị Khang được gọi là Đức Thánh Mẫu (mẹ). Nhân dân còn lưu giữ được 8 đạo sắc phong thần của các vua triều Nguyễn, phong cho tam vị Thành hoàng. Sắc phong vào các năm :

    + Đồng Khánh thứ hai ( 1887)

    + Thành Thái nguyên niên (1889)

    + Duy Tân tam niên (1909) : 2 sắc.

    + Duy Tân thứ năm (1911)

    + Khải Định thứ chín (1924) : 2 sắc.

Tại di tích còn có cuốn thư sơn son thiếp vàng, làm năm Khải Định thứ 7 (1922) ca ngợi công lao của các vị : “Bậc thần có công lao to lớn, đánh dẹp 12 sứ quân, công đức lớn lao sánh ngang trời đất. Hoá linh thiêng nơi miếu điện phù giúp dân lành. Dân chúng lưu truyền tế tự, để Người hưởng tế lễ ngàn thu. Cung kính chúc Thánh cung muôn tuổi. Dân khắp nơi thấm nhuần ân trạch lớn lao”.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, tại khu vực đền Từ Hạ còn diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của tỉnh Hải Dương và các tỉnh cùng đồng bằng Bắc Bộ. Đền ở xa khu dân cư, đường sông bao bọc 3 phía thuận lợi cho hoạt động bí mật của( Tại di tích vẫn còn dấu vết khu hầm bí mật mà cửa ra bờ sông. Tỉnh uỷ và Uỷ ban kháng chiến tỉnh Hải Dương đã họp bàn kế hoạch với bộ đội chủ lực quyết định đánh bốt Xuân Nợo và Ô Mễ (Tứ Kì) tháng 11/1951, mở ra cục diện chiến thuật có lợi cho phong trào CM ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Cùng với chiến dịch đường 5, các trận đánh trên đã góp phấn thắng lợi cho chiến dịch đồng bằng của cả nước, phối hợp cho chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ giành thắng lợi, thống nhất đất nước. Đền Từ Hạ còn là nơi các đồng chí lãnh đạo tỉnh uỷ Hải Dương chọn làm căn cứ sinh hoạt, hội họp, lãnh đạo nhân dân trong tỉnh đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược.

Hàng năm, dân làng tổ chức 2 kì lễ hội vào ngày 14 tháng giêng (âm lich) là ngày mất của Đức Thánh Phụ và Đức Thánh Tử; ngày 8 tháng 11 là ngày mất Đức Thánh Mộu. Lễ hội 14 tháng giêng là lễ hội lớn nhất trong năm. Trong lễ hội có tục rước kiệu, tế thần và tổ chức văn nghệ, diễn các tích chèo cổ và đánh cờ người. Đó là nghi lễ tưởng nhớ người có công với dân với nước đồng thời là một sinh hoạt văn hoá tinh thần của nhân dân xã Thanh Bính nói riêng và nhân dân các xã khác trong huyện Thanh Hà.

http://ditichlichsuvanhoa.com/.