Cha tôi

Thứ Tư, 02/11/2016

Cha tôi là Nho gia xử sĩ. Không ra làm quan, tên thụy là Điềm Tĩnh, tên húy là Quang Tuấn (1), năm Mậu Tuất (1838) Minh Mệnh thứ XIX được phong tặng Gia Nghị Đại Phu. Thiêm sự phủ Thiêm sự và được ban thêm tên thụy là Hiến Mục Đặng phủ quân (2).

CHA TÔI

ĐẶNG QUANG TUẤN (1752 – 1825)

 

Sắc Vua Minh Mạng truy phong cho

cụ ĐẶNG QUANG TUẤN

Năm Mậu Tuất -1838.

 ***

« Vâng mệnh Trời

Mở vận nước,

Trẩm nghĩ :

 Bề tôi tận chức hiếu thờ cha, trung thờ vua.

Vương điển trọng người thân dạy yêu mà kính.

 Xét theo lễ

Thể theo tình

Trung thuận đại phu Tán thị doãn

 Hàn lâm viện Thị độc học sĩ

Cố ĐẶNG QUANG TUẤN

Thân phụ Thái tử Thiếu bảo Tổng đốc Hà-Ninh

ĐẶNG VĂN HOÀ

Vốn nhã nhặn chính trực, hiền từ

Ưa làm điều thiện, đắp nền phúc.

 Đời hẹn đẹp khéo dạy truyền nếp nhà

Nước khen cánh én biểu trưng bóng mát

Sắc rồng rõ ơn huệ vẻ vang phúc ấm

 Ân trạch rộng phương trời rạng rỡ nghiệp nhà.

 Nghĩ tiếng thơm chưa hết, một lời khen khó ghi đủ

Nay đặc tặng hàm :

GIA NGHỊ ĐẠI PHU THIÊM SỰ PHỦ THIÊM SỰ

Ban cho tên thụy là : HIẾN MỤC

 Ôi ! Nặng thay một chữ Vua ban

Đáp lòng mong nguyện hiển dương, khiến danh bất hủ.

Lưu tryền lớp lớp vẻ vinh quang.

Anh linh kia gội mưa móc ấy ! »

                                                         

                                                   Minh Mạng năm thứ 19

                                                           ngày tám tháng 11


Cha tôi là Nho gia xử sĩ. Không ra làm quan, tên thụy là Điềm Tĩnh, tên húy là Quang Tuấn (1), năm Mậu Tuất (1838) Minh Mệnh thứ XIX được phong tặng Gia Nghị Đại Phu. Thiêm sự phủ Thiêm sự và được ban thêm tên thụy là Hiến Mục Đặng phủ quân (2).

 Mẹ tôi là Phan Thị Hãn thụy là Ôn Từ, được phong Thục nhân.

 Ông nội sinh ra cha tôi là Đặng Quang Khang. Bà nội sinh ra cha tôi là Phạm Thị Hoàn, người làng Xuân Hồi, huyện Lệ Thủy, Phủ Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Bà nội tôi là thứ thất. Bà cả là Trương Thị Nhiều, quê ở Bác Vọng.

Nghe nói đời Hiếu Vũ Hoàng Đế (Nguyễn Phúc Khoát 1739 -1763),

tháng 10 Nhâm Thân – 1752, không nhớ ngày và giờ, cha tôi được sinh ra ở quê bà nội tôi (Quảng Bình). Hai người con trai trước do bà cả là Trương Thị Nhiều sinh ra đều lấy vật những cứng để đặt tên (Đặng Quang Đanh, Đặng Quang Đá) mong dễ nuôi nhưng cuối cùng cũng không đậu. Lần này sinh được con tuấn tú nên khi đầy tháng lấy chữ Tuấn đặt tên, vào chùa quy y để mong sống được: Ngày chạy loạn lại đặt tên Tín. Khi đăng ký vào hộ tịch lại đổi tên là Tường, là Ngôn. Sao đó chỉ lấy tên Tuấn và tự Tín còn hai tên Tường và Ngôn là không gọi nữa.

Bà tôi chăm lo việc bú mớm, nuôi dưỡng ở một buồng riêng. Ông tôi rất mực yêu quý. Nghe nói trong khi bị lên đậu mùa, sợ lại vấp như lần trước nên để riêng một nơi chạy chữa, trăm phương ngàn kế cho khỏi hẳn mới về.

- NĂM LÊN SÁU TUỔI (Đinh Sửu -1757).

Bà nội sinh ra cha tôi – Phạm Thị Hoàn – mất. Ông nội đặt cha tôi và

người em gái mới 3 tuổi là Đặng Thị Huế về cho mẹ già họ Trương và nói: Mẹ lũ này không may mất để lại một trai, một gái côi cút. Nhờ cậy bà chăm sóc nôi nuôi nấng chúng như con. Nói rồi, ông khóc rống lên. Bà mẹ già họ Trương cũng khóc, từ đó tự mình chăm nom nuôi dạy như con đẻ.

 - NĂM 7 TUỔI ĐẾN NĂM 10 TUỔI. Cha tôi được ông tôi cho đi học.

- NĂM 11 – 12 TUỔI: Học tại trường tư thục cạnh nhà.

- NĂM 14 TUỔI: (Ất Dậu -1765) ông nội tôi Đặng Quang Khang mất.

- NĂM 18 TUỔI: (Kỷ Sửu -1769). Cha tôi theo học Bác sĩ Quốc Tử Giám tên là Huy, người tỉnh Bình Định, giỏi lý học là bậc danh sĩ lúc đó. Học trò cụ có đến hai, ba trăm người.

Trước đó năm 15 tuổi, sau khi cha mất, bạn học rủ ra bờ bắc sông Hương (nay là kinh đô) theo thầy cùng học. Đến chơi nhà bạn bè ai cũng có người thân chăm sóc, gia đình vui vẻ, nhìn lại thân mình chẳng có ai, mọi việc chỉ trông chờ vào mẹ già không phải đẻ ra mình, nghĩ nếu chẳng may làm điều gì không vừa lòng bà thì sẽ ra sao?. Nghĩ rồi ngồi đờ ra nước mắt lưng tròng, trong lòng buồn nản sinh ra đau ốm; lại do sông nước cách trở, đi lại không tiện nên về nhà tìm thầy khác học.

Rồi một năm sau (1767) bà nội cha tôi cũng mất (cụ Phạm Thị Thái, vợ cụ Đặng Quang Thành sau khi chông mất, bà đi bước nữa) cảnh ngộ lại càng cô đơn, đau khổ lại càng da diết.

Cha tôi thờ phụng mẹ già hết lòng. Người  đón trước ý  mẹ  già, luôn chiều theo ý mẹ. Trời nóng thì ngồi quạt cho mẹ, đến bữa ăn thì đứng hầu cơm. Cụ hơi mỏi mệt thì thuốc thang, ngày đêm chăm sóc. Cụ vừa lòng và

quý hơn hai con gái Cụ đẻ ra. Mọi khoản mua sắm bút mực, xách vở và tiếp đãi bè bạn, cụ đều không hề tiếc. Năm đó cha tôi đã thông sách  vở, hiểu nghĩa lý, lại theo các danh sư học tập. Ra ngoài thì được thầy bạn rèn cặp, về nhà thì được bạn thân là Phạm Văn Quýnh giúp đỡ, lại được mẹ già khuyên răn, thắp đèn suốt đêm để học tập. Có khi mệt quá, ngủ gà ngủ gật, mẹ già ở ngoài nhòm thấy, nghiêm khắc nhắc nhở như một ông thầy, do đó lại càng dốc chí học tập, dẫu mùa hè rất nóng hay mùa đông rét buốt cũng chưa từng rời quyển sách. Mẹ già thường có người đến mua bán, vay mượn ồn ào nên cụ làm riêng buồng để học. Nhờ vậy cha tôi ở tuổi 20 mà đã thông suốt kinh sách, đó cũng là nhờ công lao của bà mẹ già  vậy. Năm 21 tuổi mẹ già lại lo kén vợ cho nhưng có việc lại xảy ra (việc xâm chiếm của quân Trịnh từ miền Bắc) nên lại thôi.

 - NĂM 22 TUỔI (Quý Tỵ - 1773)

Học xong Ngũ Kinh và sử, cha tôi chuyển sang tìm thầy học thơ văn (ngày xưa học xong Ngũ Kinh và sử mới học làm thơ, làm văn). Lại muốn theo học nghề thuốc. Nhân có người quên biết tên là Diễn ở làng bên giỏi nghề làm thuốc, nhưng lúc này hai người chị con mẹ già là Đặng Thị Bạo và Đặng Thị Nhàn đều đi theo chồng ở nơi khác, không có ai ở bên cạnh mẹ, nên lưỡng lự chưa quyết định.

 - NĂM 23 TUỔI (Giáp Ngọ)

Do việc quân Trịnh ở bắc đánh vào Phú xuân (1774) qua Hiền Sĩ đốt phá làng mạc, cha tôi và gia đình phải bỏ Hiền Sĩ về giáp Đông xã Bác Vọng, ở nhà Đặng Viết Lân, rồi theo anh rể Nguyễn Văn Toàn. Chồng Đặng Thị Nhàn, về xóm Liên Lý thuộc giáp nhị xã Thanh Lương. Họ Đặng nhà ta định cư ở xã xóm này bắt đầu từ đấy. Từ xã Thanh Lương, cha tôi thường đến học ở trường của thầy Bình, thấy cụ không giỏi lắm nên lại đến học ở trường của cụ Hồ Quang Diệu, người xã Hương Cần. Cụ giỏi về văn học, là một danh sĩ đương thời,  lúc  này  dạy  học  ở  giáp  tam  xã  Thanh  Hương.  Thời  Tây Sơn.  Cụ  thi  đỗ Hương Cống và làm đến Thượng Thư Bộ Lại, Triều Nguyễn thì làm Đốc học Quốc Tử Giám. Cha tôi hâm mộ tài cụ Diệu nên đã từng cùng người anh cả của mẹ tôi đến tập làm thơ được một đến hai lần, sau vì bận việc nhà nên thôi.

- NĂM 25 TUỔI (Bính Thân - 1776) Trong vùng đói to (2), tất cả đồ vật, tài sản đều đem bán hết để có tiền ăn.

Liền 2 năm Đinh Dậu (1777), Mậu Tuất (1778), cha tôi lo hai cái tang (tang mẹ già và tang anh rể), cha tôi cùng người chị là Thị Nhàn lo liệu việc tang nên càng túng thiếu. Gặp lúc có ông Chấn, người ấp Hà Lạc mời đến dạy, nên cha tôi đến nhà ông ấy để dạy học. Chưa được bao lâu, được tin cô Đặng Thị Nhàn, chị cùng cha khác mẹ với cha tôi bị ốm nằm liệt giường liệt chiếu, cha tôi phải xin với chủ nhà cho về trông nom chị. Trải hai năm trời, mùa đông tháng 12 năm Canh Tý, cô Nhàn cũng mất lúc 33 tuổi. Nhà vô cùng quạnh quẽ, cha tôi xin ở nhà mở trường dạy học. Trước đây, khi chạy loạn về Thanh Lương thì có 8 người và một chị ở gái. Sau đó thì mẹ già mất, anh rể và chị Mao, người ở gái, và một chị ruột cũng theo nhau mà mất: Em gái là Đặng Thị Huế phải đến ấp Hà Lạc buôn cá kiếm ăn: chị Thị Ý và Thị Huệ, hai người chị gái họ xa mồ côi trước đây được mẹ già đem về nuôi, nay cũng phải đi nơi khác kiếm ăn. Cảnh nhà, người chết, người bỏ đi kiếm ăn chỉ còn có cha tôi và người cháu gái gọi bằng cậu "con cô Đặng Thị Nhàn" là Nguyễn Thị Quyên mà thôi. Tất cả mọi việc chi dùng trong gia đình đủ hay thiếu đều trông vào người học trò là Trần Sinh (tức là cụ cố sinh ra thống đốc Trần Văn Trung ngày nay) tùy nghi lo liệu.

- NĂM 31 (NHÂM DẦN - 1782)

Lúc này cha tôi một thân một mình, sống rất nghèo khổ, lại có cháu gái mồ côi không nơi nương tựa. Gia đình bà Phan Bá ở Thanh Lương thương tình gả con gái là Phan Thị Hãn cho cha tôi. Nhà gái đồng ý, mẹ tôi cũng đồng ý và tháng chạp năm này mẹ tôi thành hôn với cha tôi.

 - NĂM 32 TUỔI (QUÝ MÃO – 1783)

Cha tôi dạy học ở giáp đông xã Bác Vọng.

-  NĂM 32 TUỔI (GIÁP THÌN – 1784)

Sinh con gái đầu lòng là Đặng Thị Mỹ, tháng 7 năm ấy làm lễ đốt mã cúng tổ tiên để nhớ ngày vui.

- NĂM 34 TUỔI (ẤT TỊ - 1785)

Cái nhà mua của anh rể đã hư nát nên cha tôi cho sửa sang lại. Bắt đầu đăng kí hộ tịch ở giáp đông xã Bác Vọng (Các cụ đời trước vốn ở Hiền Sĩ đã ba đời. Cha tôi về ngụ ở đất kinh đô, sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ, hoàn toàn do bà mẹ già nuôi dưỡng đến khi chạy loạn về xã Thanh Lương cũng là lúc họ hàng ở Hiền Sĩ tan nát, người chết sớm, người mất tích không còn ai, ở đâu cũng đều trơ vơ, lênh đênh cơ khổ không chỗ nương thân. Nhân có qua lại dạy học ở giáp đông xã Bác Vọng, các ông Đặng Viết Nghĩa, Đặng Viết Trực ở xã ấy sẵn có mối cảm tình thân thiết, trong giáp lại vốn có họ Đặng nên khuyên cha tôi đăng ký hộ tịch ở đây để có chỗ đứng chân, cha tôi nghe lời làm theo). Năm này ông ngoại tôi là Phan Bá Khoa mất, cha tôi cùng các cậu lo liệu việc tang, lúc này cha tôi dạy học ở ngay nhà.

Ngày 11 tháng 12, lần đầu sinh con trai được tám ngày thì mất, cha mẹ tôi rất thương xót nên sau khi mất vẫn đặt tên cho Đặng Văn Chắt.

 - NĂM 35 TUỔI (BÍNH NGỌ - 1786)

Cha tôi mở trường ở nhà ông Hà Văn Sơn, ấp Hà Lạc mới được 5, 6 tháng thì Tây Sơn đánh ra Thuận Hóa, trong vùng rối loạn nên lại lui về dạy học ở nhà. Cha tôi tính thích đọc sách suốt đêm không ngủ. Khi còn ở Hà Lạc, bọn trộm cướp dòm định cướp bóc của cải nhà chủ không thực hiện được nên căm lắm. Một hôm vào giờ Mùi (2, 3 giờ chiều) một con nhện từ trên rơi xuống trước mặt. Cha tôi thấy trong lòng nóng như lửa đốt, bèn cáo từ chủ nhà xin về. Đêm đó có một người học trò nằm ở chỗ cha tôi đọc sách. Anh ta ngủ say, nửa đêm bọn cướp đột nhập, đánh anh ta một trận chí tử và mắng: Đêm nay sao không đọc sách lại ngủ say như vậy? Hôm sau nghe tin báo, cha tôi rất ngạc nhiên. (Có thế là vốn giàu lòng từ thiện nên quỷ thần phù hộ mới thoát được như vậy. Xin ghi lại ở đây).

 - NĂM 36 TUỔI (ĐINH MÙI – 1787)

Tây Sơn luyện quân gấp để chuẩn bị đánh ra Bắc. Cha tôi đã đăng ký hộ tịch ở xã, không biết làm sao được nên làm đơn xin cho lui lại dạy học. (Lúc này, người nào biết chữ tình nguyện mở trường dạy học đều có thể nộp đơn xin sát hạch một đầu bài bằng thơ hay văn tứ lục, thông thạo một chút thì đều được miễn trừ). Cha tôi nguyên đã học lý học, sát hạch lại chỉ hỏi sơ lược ba câu. Câu thứ nhất: Tây hướng nhượng tam. Nam hướng nhượng tái. Câu thứ hai: Phi duy thường tất sát chi. Câu thứ ba: Tề tất hữu minh bố. Cha tôi giảng giải thông suốt nên đạt được, sau đó có luật nghiêm ngặt về việc làm thẻ tín bài mà cha tôi chưa có chỗ nào nương nhờ. Huyện Quảng Điền là thuộc quyền quản trị của Thái úy Tây Sơn Phạm Văn Hưng. Ông ta triệu tập 18 người biết chữ  trong  huyện  cho  được  miễn  khỏi  làm  binh  dịch,  đặt  tên  là  “học sinh chuyên ti", để trông nom công việc của nhà thờ, có việc thì cũng lễ, không có việc thì đèn nhan. Cha tôi đến làm việc này, sau khi đến làm việc tại nhà Phạm Văn Hưng thì có đủ lương ăn nhưng thường xuyên phải túc trực ở đó

nên học trò mỗi người một nơi. Tháng 6 năm đó 1787, sinh con gái thứ hai là Đặng Thị Lệ.

 - NĂM 38 TUỔI (KỶ DẬU – 1789)

Hoàng Tăng Thục nhân viên Viện Thái y của Tây Sơn, cùng các vị hương hào xã Cổ Lão hết lời mời cha tôi đến dạy ở nhà vì trước đó ông ta đã từng cho con là Hoàng Tăng Thuận, Hoàng Tăng Từ đến theo học, tình ý rất gắn bó. Khi rãnh việc cha tôi lại về nhà dạy thêm, sĩ tử đều đến học tập.

 - NĂM 40 TUỔI (TÂN HỢI – 1791)

Ngày 28 tháng 6 (Tân Mùi) sinh ra tôi là Đặng Văn Hòa ở nhà cũ, ở Liên Lý Thanh Lương vào giờ Ất mùi.

 - NĂM 41 TUỔI (NHÂM TÝ – 1792)

Em gái cha tôi là Đặng Thị Huế bị bệnh mất, lúc này mới 38 tuổi. Khi quân Trịnh xâm chiếm bờ cõi (1774) cha tôi và cô tôi đều theo mẹ già cùng với chị Đặng Thị Nhàn tránh về xã Thanh Lương. Gặp khó khăn chồng chất, gia đình sa sút nên cô Huế phải đến phường Hà Lạc (Bác  Vọng) trọ ở nhà họ của mẹ già để buôn bán nuôi thân, chỉ thỉnh thoảng qua lại thăm nom mà thôi.

Năm Quý Mão(1783) lấy người cháu ruột mẹ già là Trương Văn Diêm, sinh được hai người con trai là Trương Văn Thìn (đã mất) và gái là Trương Thị Tý. Ngày 23 tháng 2 năm ấy cô tôi bị bệnh mất ở nhà chồng. Dượng tôi nghèo không đủ sức chôn cất, cha tôi cấp cho áo quan và chôn cất ở cánh đồng xứ Cồn Găng, xã Bác Vọng. Nay con gái còn người cháu đích tôn là Trương Văn Bằng con ông Trương Văn Thìn trông nom mồ mã, đến cuối năm cũng thân hành đến nơi để viếng.

 - NĂM 43 TUỔI (GIÁP DẦN – 1794)

Dạy con trưởng thái úy Tây Sơn Phạm Văn Hưng là Phạm Văn Trị và các con khác của ông. Trước đó, trong đám thầy học ông ta chọn cha tôi và Ngô Văn Thục (cũng là người giáp đông xã Bắc Vọng) để dạy học cho con ông. Cha tôi lấy lý do là trình độ học còn ít không kham nổi để từ chối vả lại cũng đang dạy nhiều học trò ở xã Cổ Lão. Vì vậy chỉ có Ngô Văn Thục nhận giảng dạy trông 3, 4 năm. Phạm Văn Trị học đã khá lại mời thêm cụ đồ Nghị và tư nghiệp Nguyễn Văn Chắt đi lại bảo ban thêm. Một hôm, Phạm Văn Trị đọc sách Luận ngữ đến chương "Tứ sử Tất Điêu Khai sĩ" (Khổng Tử bảo Tất Điêu Khai học trò của Người ra làm quan) ở đoạn trên có câu: Nếu coi thường chưa tin vào đạo lý thì sự nghiệp của vua Nghiêu, vua Thuấn chẳng qua cũng chỉ là một điểm phù văn trôi qua thinh không mà thôi. Phạm Văn Trị chưa hiểu nên hỏi, Nguyễn Văn Chắt và Ngô Văn Thục đều không đáp được. Lại hỏi cụ đồ Nghị, cụ cầm sách xem đi xem lại đến nửa khắc nhưng vẫn lặng im. Lúc này cha tôi có ngồi dự, cụ Nghị nói: Ai giảng được câu này tôi xin chịu làm đàn em. Cha tôi cho rằng câu đó không khó giảng lắm nên quên mất việc tự ngăn mình, không giữ được bèn đem câu đó giảng ra, lời và ý thông suốt. Cụ đồ Nghị cả cười nói: Nhà quan đã có ông anh tôi đây là người tinh thông về

lý  học,  còn  dùng tôi  làm  gì  nữa! Và  nói  với  Phạm Văn  Hưng để  cha  tôi chuyên trách, cha tôi suy nghĩ là chính mình đã có học trò rồi, sao có thể chuyên dạy học ở đó được nên nói: Trần Văn Tư, Trần Văn Hoàng đều là người có học cùng với tôi và Ngô Văn Thục, bốn người chia nhau dạy, sau đó cha tôi giảng giải nghĩa lý rất sáng tỏ, Phạm Văn Trị lại càng kính trọng. Từ đó cha tôi vừa dạy học ở Bác Vọng, vừa dạy học ở Cổ Lão.

 - NĂM 44 TUỔI (ẤT MÃO – 1795)

Sinh con thứ hai là em Đặng Văn Chức.

 - NĂM 47 TUỔI (MẬU NGỌ - 1798)

Lại dạy học ở nhà. Trước đó dạy Phạm Văn Trị được một đến hai năm, sau Phạm Văn Hưng mất, Phạm Văn Trị lấy công chúa con của Tây Sơn. Cha tôi nghỉ hắn đã có chức tước nên xin thôi việc dạy nhưng hắn cứ nằn nì hai ba lần xin cha tôi ở lại giảng cho em hắn và kiêm giảng bộ sách Xuân Thu cho hắn.

Cha tôi cố ý chối từ, chỉ nhận giảng một bộ Xuân Thu mà thôi, còn em

hắn đã có người khác dạy. Sau đó, họăc mấy ngày một lần, họăc mấy tháng một lần, mỗi ngày năm, ba ngày đến cùng giảng với người khác, giảng xong lại về dạy học trò ở nhà. Năm đó, hai xã Bác Vọng, Cổ Lão đều đến mời đi dạy, không thể làm thế nào, nhà lại ở trên đường mà hai xã học trò đều đến như nhau nên phải nhận vậy.

Tháng 8 năm đó, mời sư tụng kinh làm lễ đốt mã cho tổ tiên một ngày một đêm rồi làm lễ tạ. (Đây là lần đầu tiên nhà tôi làm lễ cầu siêu, dáng chừng là do mẹ tôi muốn vậy).

 - NĂM 48 TUỔI (KỶ MÙI – 1799)

Sinh con út là em Đặng Văn Trọng.

 - NĂM 50 TUỔI (TÂN DẬU – 1801)

Có sự việc sau đầy xảy ra:

Sau khi Phạm Văn Trị lấy công chúa của Tây Sơn thì ra làm việc trong quân ngũ, vì thế cha tôi được ở nhà dạy học, năm này vào giờ Ngọ, ngày 19 tháng 4, chị Đặng Thị Mỹ là con cả của cha tôi từ chợ Thanh Lương về nói: Vừa thấy mấy người cỡi ngựa cầm cờ thét hỏi xã Bác Vọng ở đâu người đi chợ ngạc nhiên không biết ra sao, cha tôi hoảng hốt nói: Đó là cờ lệnh! Đến đây không biết có chuyện gi? Đương lúc mọi người nói đi nói lại bỗng thấy người xã Bác Vọng chạy tới kêu lên: "Nguy quá! Quan Phò Mã sai người bắt Ngô Văn Khả giải đến đồn Tư Dung chém đầu gia đình đã chuẩn bị đi theo.

Trước đây cụ có quan hệ thầy trò với phò mã, được kính trọng và yêu mến, xin cụ ra sức cứu cho may ra còn được sống". Cha tôi nghe nói vậy, vội vàng đi ngay đến nơi thì may thay đã thấy Phạm Văn Trị tha cho rồi. Vừa lúc đó có người bạn cũ là Phan Đinh Nho, người xã Phú Lương, huyện Hải Lăng đã đến đồn từ trước đang cùng Phạm Văn Trị đọc thơ, giảng văn. Cụ nhân đấy lưu lại mấy ngày. Quân "nhà trời" đánh đồn, Phạm Văn Trị thua chạy; Cha tôi và cụ Phan Đình Nho đều bị bắt, qua nhiều lần tra xét, xác nhận chỉ là ông thầy đồ dạy học nên được tha về. Sau khi quân triều đình tiến đến kinh đô, học trò tản, hoặc xin vào các bộ, các ty làm việc, hoặc chọn chỗ cho yên thân. Số đến học chỉ còn độ hai chục, tuổi còn nhỏ, sau xã này lại nhờ người quen ở Cổ Lão là Hoàng Phước Nghĩa năn nỉ nhiều lần tha thiết mời cha tôi đến dạy học ở đấy.

 - NĂM 51 TUỔI (NHÂM TUẤT – 1802)

Đang dạy học ở nhà ông Phạm Văn Hổ thân hào xã Long Đài tử đến nghe giảng rất đông.

 - NĂM 53 TUỔI (GIÁP TÍ – 1804)

 Tháng 6, tôi được 14 tuổi bị ốm nặng sau khỏi hẳn, việc đó rất đáng mừng nên cha tôi đốt mã cho tổ tiên vào rằm tháng 7.

Tháng 11 gả chồng cho chị gái thứ hai của tôi là Đặng Thị Lệ, lấy Trần Văn Giai ở giáp ba xã Thanh  Lương vốn là  học trò của cha tôi, tính tình thuận hậu.

 - NĂM 54 TUỔI (ẤT SỬU – 1805)

Lại dạy học ở nhà, học trò đến nghe giảng càng đông, đời sống gia đình tạm đủ, nhà cửa bắt đầu sửa sang lại. (Từ ngày dạy học ở Long Đài, hằng năm ông Phạm Văn Hỗ cung cấp cho một mẫu ruộng, mỗi vụ thu được trên 20 đấu thóc).

 - NĂM 58 TUỔI (KỶ TỊ - 1809)

Tháng 5, thần lửa ra tay, một tháng cháy nhà 3 lần, gia tài cháy thành tro bụi, phải chuyển đi ở nơi khác tức là cái vườn làm nhà hiện nay. Ngày 16 vào giờ Thìn, cháy nhà người cháu họ ở bên cạnh là Phan Bá Xuân, giờ Ngọ là nhà chúng tôi, giờ Mùi nhà ông cậu nối tiếp nhau cháy. Người trong xã và người xã bên kinh sợ, náo động, mỗi khi có tiếng kêu thì lập tức đến cấp cứu. Nhưng trời nắng nóng quá, gió nồm lại thổi mạnh nên chẳng làm gì được, cha tôi phải cất tạm một căn nhà rồi lại bắt đầu khai giảng như cũ, mặc dù năm này cha tôi đã gần 60 tuổi. Ngày 3 tháng 6, trên mái nhà có lửa và khói bốc lên, nhìn vào thì là một bó giấy cũ giắt ở trong tấm tranh, cháy sáng như đèn, kịp dập tắt liền. Ngày 15 tháng ấy, làm xong một căn nhà 3 gian, tạm dùng

làm chỗ ở. Giờ Mùi ngày 17, trên nóc nhà bỗng cháy một ngọn lửa bốc khói, gọi hô hoán lên, xóm làng đều chạy đến hết sức cứu nhưng không nổi, may thay bỗng chốc mưa như trút nước xuống nên khói lửi mới tắt. Nhà chúng tôi như vậy đã cháy ba lần, nhiều người khuyên nên chuyển chỗ ở, nhưng cha mẹ tôi còn do dự, gặp lúc có người quen cũ vốn am hiểu về phong thủy qua nhà vào thăm, bảo lấy  một sảo  giỏ, để ở gian giữa nhà ngoài, ở phía bắc hướng ra vườn, đào một cái hố sâu ba thước rồi dùng giấy vàng làm bùa phép đặt lên trên sảo chôn đi thì trừ được hỏa khí. Đến đêm mẹ tôi mơ thấy một bà

già xăm xăm lại gần và lệnh bảo phải đi, mẹ tôi liền đem việc đó đi hỏi thầy bỏi quả là điềm xấu, lại nhờ xem chuyển chỗ ở thì được quẻ lành do đó cha tôi quyết định dời đi chỗ khác, ông mua lại một căn nhà cũ nơi thờ thần.

 - NĂM 60 TUỔI (TÂN MÙI – 1811)

Ngày 18 Ất Mùi tháng 9 năm ấy, giờ Mão cưới vợ cho tôi, lấy con gái họ Hoàng tên là Thị Quỳnh ở giáp Tây xã Bác Vọng, năm này tôi được 21 tuổi.

 -  NĂM 62 TUỔI (QUÝ DẬU – 1813)

 Tôi đi thi Hương và trúng tuyển. Cha mẹ tôi lại đốt mã cho tổ tiên để tỏ lòng biết ơn. Cũng năm này em thứ hai của tôi là Đặng Văn Chức vào làm việc ở Viện thái y lúc mới 19 tuổi.

 - NĂM 64 TUỔI (ẤT HỢI – 1815)

Cưới vợ cho em thứ hai tôi là Đặng Văn Chức lấy con gái họ Nguyễn ở Thanh Lương tên là Nguyễn Thị Khương.

 - NĂM 67 TUỔI (MẬU DÂN – 1818)

Cháu đích tôn sinh, đặt tên là Đặng Huy Hy, cha mẹ rất thương yêu.

 - NĂM 69 TUỔI (CANH THÌN – 1820)

Cháu đích tôn thứ hai là Đặng Huy Sĩ.

 - NĂM 70 TUỔI (TÂN TỊ - 1821)

Tháng 7, em út tôi là Đặng Văn Trọng đỗ tú tài và lấy vợ họ Trần ở Tân Sa tên là Trần Thị Minh.

 - NĂM 71 TUỔI (NHÂM NGỌ - 1822)

Tôi 32 tuổi. Từ chức Tri huyện tôi được thăng làm Lan trung bộ binh. Cha mẹ tôi lại đốt mã cúng nội ngoại gia tiên để biết ơn.

 - NĂM 72 TUỔI (GIÁP THÂN – 1824)

Tôi đóng thọ đường cho cha tôi (ngày tôi làm Tri huyện Hà Đông – Quảng Nam, tôi mua gỗ nguyên cả cây để đóng thọ đường).

  "Tháng 12 (năm 1824), cha tôi sửa lại mộ cụ Cao tổ khảo Đặng Quang Minh. Ngôi mộ này cùng các ngôi mộ trước, việc tảo mộ đã 40 năm nay không làm được. Mãi đến năm Gia Long thứ 9 (1811) cha tôi mới thân chinh về xã Phù Ninh, tìm đến  hỏi các người trong xã là ông Đỉnh, ông Lẫm lúc còn ít tuổi đã từng cùng đi tảo mộ với gia đình nên mời các ông ấy cùng đi, để chỉ dẫn cho các ngôi mộ, nhận lấy vị trí cho đích xác. Duy có ngôi mộ cụ Thủy Thế tổ đã lâu ngày nên các ông cũng quên mất. Đi đi lại lại ở núi Bào Chỉ và núi Ngô Nhị tìm kiếm mãi, sau có một hai ngôi mộ nghi là mộ nhà mình nhưng không phải là nơi năm xưa đã bốc bùn đắp lên. Nhìn bốn phía đều như nhau, không biết dựa vào đâu mà nhận ra. Hàng năm đến kỳ tảo mộ thì chỉ biết chạy quanh đồi núi, suốt ngày vất vả tìm tòi rồi lại  trở về không. Cứ như vậy đến 14, 15 năm liền. Cha tôi thường nhắc nhở đến nhưng việc thực khó giải quyết. 

 Năm Minh Mệnh (Giáp thân -1824) khi tôi làm Tham hiệp Thanh Hoá, đến ngày 4 tháng 10 đúng là ngày giỗ Cụ thân sinh ra cha tôi -cụ Đăng Quang Khang. Cúng đã xong, trong khi  mọi người đã ra về, cha tôi và tôi cùng hai em ngồi bàn bạc đến việc này, bất giác mọi người đều rơi nước mắt. Em út tôi là Đặng Văn Trọng cố xin làm cho được việc này. Ngày mồng 6, cha tôi tắm gội sạch sẽ, làm lễ ở từ đường rồi theo hai em tôi cùng ông Lê Văn Vị người Thanh Hoá có biết đôi chút về phép « độn giáp » cùng gia nhân chuẩn bị mọi thứ đi đến nhà ông Trần Văn Đống xã Phù Ninh. Sớm ngày mồng 7, mời hai ông Đỉnh và Lẫm cùng đi thẳng đến núi Bào Chỉ. Đi qua đi lại xem xét, suy nghĩ nhưng chỉ thấy cỏ mọc rậm rạp không có chỗ chen chân, gai góc chằng chịt không thấy gì, chặt phát và san đi thì bổng thấy một đám đất phẳng hiện ra một mặt bằng, nhìn nhận kỹ thì thấy hình dạng một ngôi mộ. Lại đem chuyện lúc còn trẻ đã tới ruộng lấy bùn đem lên núi đắp mộ, xem xét kỹ thấy có nhiều nét cũ có phần nào giống, bèn khấn Sơn thần nơi đó và xem thêm phép bấm độn thì thấy trúng tên huý của cụ Cao tổ khảo Đặng Quang Minh. Bèn đào sâu xuống sâu hơn hai thước năm tấc (bằng 1 thước tây) quả thấy áo quan bằng gỗ, xương thịt đã mục nát gần hết nhưng răng lớn, đốt chân, đốt tay vẫn còn đôi chút, chỗ đất sát vào cơ thể màu vàng trơn. Nghiệm kỹ nhiều lần, buồn vui lẫn lộn rồi tạm đắp lại và trở về (ấy là vào giờ Tỵ ngày mồng 10). Suy nghĩ rằng chỗ đất này hình dáng tương ứng.

Ngày 16 (Ất hợi) lại thành tâm lập đàn ở gia đình để bói, quả nhiên được quẻ lành, xem được quẻ « Thiên địa bỉ » (một quẻ trong kinh Dịch), sáu hào đều tĩnh. Đó là «Thế cư tướng địa, Nhật nguyệt lai sinh, Hợi trị vượng thời, Tử tôn cư thủ». Lại dùng phép «Tiềm động » suy ra : «Cửu tứ hào động dịch bĩ quái », lời rằng : « Hữu mệnh vô cữu trù ly chỉ». Phán đoán ba, bốn lần đều quẻ lành. Ngày 8 tháng 11 làm lễ tạ thần và cám ơn người làng. (Trước đó, vì không báo cho người trong xã biết mà tự tiện phạt cây, san đất nên người trong làng cho người đến tận nơi tróc hỏi, bắt trói người em thứ hai tôi. Cha tôi theo người đó về đình làng. Người trong xã nhìn thấy cha tôi đều một loạt đứng dậy vội hỏi: Quý nhân có việc gì ? -do cụ Đặng Quang Tuấn mở trường dạy học cho nên dân quanh vùng đó có người theo học, biết tiếng tăm cụ. Đến lúc này cha tôi mới đem mọi việc trình bày rõ ràng. Người trong xã xin lỗi và cởi trói cho em tôi, lại cho 10 dân phu theo phục vụ).

Ngày 20 (Mậu dần) tháng 12, sau tiết lập xuân 3 ngày, Thiên Can là Tam Bằng, Địa Chi là Tam Hợp, Đẩu Thủ là Tam nguyên. Cư sinh vượng rất tốt. Đào mộ lên, đưa hài cốt gói vào vải lụa, giấy kim cương, tiền giấy, chiếu theo hướng núi, lấp đầy thành nấm mộ. Đó là mộ Cụ Thuỷ Thế tổ của họ Đặng (Đặng Quang Minh) để lại cho con cháu muôn đời.

- NĂM 74 TUỔI (ẤT DẬU – 1825)

Ngày 24 tháng 8, cha tôi từ trần, thọ 74 tuổi. Năm đó tôi còn ở Thanh Hóa, chỉ có hai em tôi là Chức và Trọng ở nhà trông nom nuôi dưỡng. Trước đó đã làm xong thọ đường, cha tôi càng thêm vui lòng. Người thường bảo các con: Liệu chừng tháng bảy tháng tám sẽ dùng đấy. Ngày 19 tháng 8, nhân chuẩn bị tế thần, người ra sông tắm rửa. Làm lễ xong, thần sắc người vẫn còn mạnh, ăn uống được như thường, đến đêm bỗng kêu nhức đầu. Sáng sớm ngày 20, các con đều đến thăm và đưa thuốc người uống, bệnh bớt tám, chín phần. Chiều ngày 21, đi tản bộ ngoài vườn và sân, chân tay thấy mỏi lại uống thuốc, bệnh không tăng mà cũng không giảm nhưng cũng không có gì khác.

Sáng ngày 22, người gọi các con và bảo: Hương án xưa nay thờ đức Khổng nay nên để cho anh Trọng thỉnh về nhà riêng thờ cúng. Em Trọng tôi cố từ chối không được bèn bố trí đèn nhan trầu rượu. Cha tôi gượng dậy rửa ráy thay quần áo và làm lễ. Xong, cha tôi bảo gọi ngay thợ mộc đến sửa sang làm thành một cái phòng ở gian giữa nhà. Canh tư đêm đó, các em tôi là Chức và Trọng ngồi bên cạnh được người dặn rằng: Khi nào anh các con về thì bảo là giỗ ngày 18 tháng 8, phải nhớ đừng quên. Ngày 23, em Chức tôi kính cẩn bắt mạch thì thấy sáu mạch dần dần khác thường. Các em tôi đều khóc, liền mời thêm y sĩ Nguyễn Chánh Sở cùng đến xem mạch. Giờ Mùi, phòng làm đã xong bèn đặt giường trải chiếu, đem chăn màn. Giờ Dậu, người lên giường. Lúc này ăn đã giảm đi một nửa so với ngày thường, hai chân hơi lạnh. Đến giờ Tuất, y sĩ Nguyễn Chánh Sở quỳ xuống chẩn mạch và bảo nhỏ với các em tôi rằng mạch người đã vô thần, khó vãn hồi được, hãy sắc độc vị nhân sâm cho người uống.

Đêm  đó  cha  tôi  dựa  vào  gối  ngồi  ngay  ngắn  và  chỉ  nói  những việc thường, lại nhìn vào các cháu Tả và Sĩ, khuyên bảo phải chăm học, lời lẽ rành rọt, lại đòi uống nước trà và tự tay bê lên uống lại hút thuốc nữa. Cả đêm người không ngủ. Giờ Dần, ngày: Người đòi ăn cơm, ăn được ba, bốn muỗng thìa. Người vẫn sáng suốt bảo các con rằng: "Ta bây giời không dậy được nữa nên cáo từ với Từ đường xin đợi giờ lành". Lúc này, thân quyến, xóm làng đến thăm đông. Người bảo thắp nến đặt hai bên chỗ ngồi. Cuối giờ Mão trước hết người bảo mẹ tôi vào làm lễ sau đó bảo con dâu trưởng rồi đến con trai, con dâu, con gái và các cháu theo thứ tự vào làm lễ. Người còn cầm tay vợ tôi là con dâu trưởng im lặng một lúc lâu sau đó bảo lui ra. Cha tôi còn nói: gia tư chỉ có mấy mảnh vườn, khi anh bọn bay về bảo lo liệu việc ma chay cho vừa phải thôi, con cháu đều khóc. Rồi người lại chỉ lên đình màn rồi nói. Bọn bay có thấy hai con chim phượng bay quanh không? Các cháu đều vâng dạ. Người sai học trò của người là Đặng Viết Phú thay người làm lễ cáo

mệnh trước từ đường rồi sai đốt nến trước chỗ ngồi. Lúc ấy em Chức tôi dựa sau lưng còn em Trọng thì đỡ ở cạnh để người ngồi một lúc lâu, sau thấy thần sắc người dần dần khác đi. Các em tôi đặt người nằm ngay ngắn và đặt hồn bạch lên thân Người.

 Người đã đi! Lúc đó là đúng giờ Thìn

Ô hô! Đau đớn thay!

 Thọ đường và mọi thứ cần thiết cho việc sau khi người mất đã được chuẩn bị sẵn sàng từ hai ba năm trước, người đã được thấy tận mắt.

Các em tôi hợp sức theo lệnh mẹ tôi làm chu đáo mọi việc: Đặt người ở gian giữa nhà, sớm hôm thờ cúng để đợi tôi về.

Hơn nữa tháng sau, ngày 6 tháng 9 tin cáo phó mới đến Thanh Hóa. Tôi ruột gan muốn đứt, hai hàng nước  mắt  ròng ròng,  tôi  vội  dâng sớ  xin  được  về  quê  chịu  tang,  nhà  vua chuẩn y ngay.

Ngày 6 tháng 10, tôi mới về đến nhà cùng các em bàn định tang lễ.

Giờ Canh Dần, ngày Bính Ngọ 24 tháng giêng năm Bính Tuất (1826) an táng tại cánh đồng xứ Đại Biểu, thường gọi là Biểu Mỵ thuộc địa phân xã Hiền Sĩ. Mộ tọa Giáp, hướng Canh kiêm Dần thân ba phân.

Trước, mộ cụ Cao tổ khảo đã để ở đấy. Cha tôi thấy xã Hiền Sĩ núi sông hợp cảnh, phong tục lại thuận hậu đã có ý hâm mộ và thường nói với mẹ tôi sau khi bách tuế, nếu được quy tang về Hiền Sĩ để theo tổ tiên là điều mong muốn nhất. Khi tôi về nhà, mẹ tôi cho tôi biết việc đó, tôi bàn với các em tới ngay xã đó xin cho một miếng đất tốt để thỏa nguyện vọng của cha tôi. Người làng tán thành. Bèn mời thầy địa lý là Bùi Ngọc Thừa người xã Thạch Bình, huyện Quảng Điền cùng với em Trọng tôi đi thuyền đến bến đò ấy. Cùng đêm, tôi nằm mơ thấy tôi từ Thanh Hóa hộ tống quan tài cha tôi về đến cửa Thuận An, không thuộc đường thủy, bèn thuê dân phu hướng dẫn, quả nhiên được một đường thuận tiên. Tôi chợt tỉnh dậy, bảo cho em Trọng tôi biết, các người trong thuyền đều cho là điềm lành. Bùi Ngọc Thừa nói: Phải ra thì ngày hôm nay ắt sẽ có người chỉ ra miếng đất tốt. Sáng sớm liền đi lên núi cách đó năm sáu dặm, xem ra hình thế thấy được một  miếng đất cũng có ngày sẽ có thể dùng đến, nhân giờ Ngọ cùng nhau trở về thuyền tạm nghỉ. Giữa đường thì có người làng ấy là Nguyễn Thanh Thái từ ngoài đi vào bảo rằng: trước đây nhiều thầy địa lý khen xứ Đại Biểu có đất tốt làm mộ có âm phần, sao không đi xem? Bùi Ngọc Thừa xắn quần đi theo ông ta để dẫn đi. Đến nơi nhận kỹ đông tây, nhìn khắp phía nam cho mãi đến khi dời đi mới thấy một miếng đất tốt. Bèn dừng thuyền ngay, chèo đến thôn Long Khê, tìm nhà ông Hồ Văn Túc vốn là học trò của cha tôi và lại là chồng người cháu gái mẹ tôi. Ngay đêm đó lập bàn thờ để xem bói quả được quẻ cát (tháng Tý ngày Hợi xem được quẻ "ký tế" lục hào điều tĩnh).

Trở về nhà, xem bói lại cũng được điềm cát (quẻ này cũng là "Lục hợp hóa lục hợp). Lại xin ý kiến Thượng thư bộ Hộ Nguyễn Hữu Thận người xã Đại Hòa, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị là người tinh thông về môn bói toán. Ông cũng khen là đại cát. Tôi lại trai giới, chân thành đặt bàn thờ cáo với thần thánh xin cáo mộng và cũng được điềm lành (mộng thấy bài văn trúng cách,  khuyên  đỏ  đầy  quyển).Việc  chọn  nơi  để  phần  mộ  đến  đây  đã được  quyết  định  tôi  chuẩn  bị  nơi  cúng thần  thánh,  và  bỏ  ra  50  quan  tiền quyên xã sở tại, nói với xã xin cắt cho 1 sào 5 thước để làm mộ cho được rộng rãi. Lại chọn năm, tháng, ngày đều tố mới an táng. Lễ tang thì dùng lễ cho kẻ sĩ và tế "Tam ngu" tỉnh Thanh hóa và xã Bác Vọng đều phúng lễ tam sinh.

Họ hàng đều phúng lễ xôi gà. Em út tôi dâng cúng cỗ bàn phí tổn độ 100 quan. Em thứ hai cũng chi phí từ bốn đến năm chục quan, còn phần tôi, vợ tôi bỏ ra lo liệu ước chừng mất 1000 quan.

Năm Minh Mệnh thứ IX (Mậu Tý – 1828) ngày 23 tháng 5. Cha tôi được phong tặng Trung Thuận Đại Phu tán trị doãn Hàn Lâm Viện thị độc học sĩ Đặng Hầu (năm đó tôi làm Thự hữu tham Tri bộ binh, chánh tam phẩm, nên cha tôi xếp xuống hai bậc và được tặng hàm này)

Tháng 6 năm Minh Mạng XIII (Nhâm Thìn – 1832), tôi giao phó cho

em tôi đặt bàn chay lớn tại một nơi yên tỉnh ở xã Thanh Lương, mời các vị sư đến tụng kinh và làm lễ cầu siêu, làm năm ngày đêm mới xong theo đúng nghi lễ, xong việc dùng lễ tam sinh tế tạ. Ngày 8 tháng 11 năm Minh Mệnh XIX (1838) cha tôi lại được phong tặng Hàm Gia Nghị Đại Phu Thiêm sự phủ Thiêm sự và được ban cho tên Thụy là Hiến Mục, chánh tam phẩm, tước Hầu.

 Cha tôi vốn tính nhân từ độ lượng, thật thà, suy nghĩ sâu xa kín đáo, dáng người cao, nét thanh tú, sắc thái sáng sũa hồng hào, trán cao rộng, đôi mày rõ nét, tóc tuy ít nhưng đến già vãn còn xanh nguyên, râu thưa và bạc một nữa, răng tuy rụng hết, 36 tuổi đã rụng răng nhưng nét mặt chưa nhăn nhúm lắm. Phong tư đoan chính, cử chỉ khoan thai có phong độ nhà Nho. Người vốn nhiều bệnh nhưng nhờ khéo dinh dưỡng nên mới đạt được tuổi thọ. Năm 29 tuổi, cô tôi là Đặng Thị Nhàn bị ốm nặng, muốn ăn ếch, cha tôi gội mưa lội nước đến xã Long Đài mua về cho cô tôi ăn, sảy chân ngã ở chợ cầu Thanh Lương, chân tay lẩy bẩy, tay nắm chân bước không vững sau đó được thầy thuốc chữa khỏi. Lúc trên 50 tuổi lại bị bệnh (khí hư hạ hãm) dùng thuốc bồi bổ nên đã thuyên giảm.

Nhìn lại cả cuộc đời của người từ trẻ đến già toàn gặp những chuyện đau khổ, khó khăn thường nhiều mà ngày được sung sướng thư thái thì không được  bao  nhiêu.  Như  từ  năm  lên  sáu  đến  16  tuổi,  bao  nhiêu  đau  thương chồng chất tích tụ thành bao sầu muộn. Từ năm 16 đến năm 22 tuổi thì đêm đêm chong đèn đọc sách cũng rất cực nhọc. Từ 23 tuổi đến 31 tuổi, tám năm trời gặp cơn binh hỏa lưu ly chạy hết chỗ này đến chỗ khác, cảnh nhà thiếu thốn, kiệt quệ, chạy ăn chạy mặc, tâm tư không được rãnh đến nữa khắc. Tiếp đó trong bốn năm lại có ba cái tang dồn dập, gia đình phải lìa tan bốn phương để kiếm miếng ăn, trong nhà chỉ còn đứa cháu gái gọi bằng cậu mới tám tuổi sớm tối dựa dẫm vào nhau mà thôi. Lúc này hai cậu cháu một bóng, chẳng trông cậy  được  vào  ai,  buồn  thảm  không sao  nói  nổi.  Nhưng cha  tôi  vẫn thuận theo mệnh trời ăn ở ngay thẳng vui với đạo đức, tuân theo lẽ phải. Những ngày rãnh việc dạy học làm vườn trồng rau để di dưỡng tính tình, đêm thì đọc sách ngày ngâm thơ, nâng cao chí khí không hề vì lênh đênh cơ khổ mà tự hạ thấp phẩm giá một chút nào nên các bậc hào mục trong xã đều quý mến và giao du, ngày thường chật nhà, chén trà hớp rượu trăng xuân gió lạnh, cảnh nghèo thật cùng cực.

Từ năm 32 tuổi (Quý Mão – 1783) trở đi đến năm 49 tuổi (Canh Thân – 1800) trong 17 năm trời tuy nói là phượng hoàng có đôi, đã có trai ngoan gái đảm nhưng cửa nhà vẫn trống trơn, không khỏi phải lấy việc dạy học làm kế sinh nhai. Từ 50 tuổi đến 58 tuổi trong chín năm ấy đã đỡ túng bẩn, tạm đủ ăn mặc, không ngờ thần lửa ra oai, một tháng ba lần cháy nhà, nhiều phen dựng lại sau phải chuyển đi nơi khác mới ổn định được nơi ăn chốn ở.

Từ năm Canh Ngọ 59 tuổi đến năm 70 tuổi các con lớn dần, lần lượt cho thành gia thất, phải trù liệu nhiều bề mới hoàn thành nguyện vọng.

Sau năm Nhâm Ngọ 71 tuổi các con đều có cửa nhà riêng, bước đầu lập được thanh danh, chỉ mong song thân ngày đêm khỏe mạnh và trời tăng tuổi thọ, chờ cảnh con cái vui vầy, cháu chắt quanh dưới gối, những mong "điển hình như tại Sơn Mộc hưng ca" nào ngờ núi Thái Tơn có ngày lỡ, rường cột có ngày hư, nói ra xiết bao bi thương.

Ôi! Ngọc đã chôn, hương đã vùi! Linh hồn cha tôi tuy đã trên tầng mây

xanh nhưng rễ sâu nền rộng, đức độ cha tôi thì tỏa mãi dến đời cháu chắt

Cha tôi mồ côi sớm, phụng thờ mẹ già hết lòng hiếu thảo, khi cụ mất rồi thì sự luyến tiếc càng sâu nặng. Một đêm, cha tôi chong đèn đọc sách tự nhiên khóc to lên, mẹ tôi hỏi vì sao thì cha tôi nói là cha mẹ mất sớm, nhờ có mẹ già nuôi dạy nên mới biết năm ba chữ, nào ngờ cụ sớm tịch, chưa kịp phụng dưỡng cho nên buồn mà khóc. Hằng năm cứ đến ngày giỗ thì cúng lễ rất chân thành. Lời cha tôi dặn nhớ ngày giỗ 18 tháng 8 vẫn được coi là di chúc thiêng liêng, xem đó có thể thấy tấm lòng của cha tôi đối với mẹ già nuôi như thế nào.

Về việc học thì lấy Ngũ kinh Tứ thư làm căn bản. Ngoài ra, các sách sử truyện, ký và sách thuốc, sách bói toán, không có sách nào không đọc. Về y thì tuy không nghiên cứu để thực hành, nhưng về bói  toán thì thấy có  vẻ nghiệm. Đối với các học thuật khác và các bạc nghệ thì tuy chỉ nói nhẹ nhàng không có bài xích nhưng trong lòng đã dứt  khoát  không bao  giờ làm cho người khác buồn.

Đối với bản thân thì trau dồi đạo đức, coi trọng lời hứa, nói không cẩu thả, mừng giận không quá lộ ra ngoài. Bàn luận thì khen cái hay, không nêu cái kém của người ta, cũng chưa tranh khôn tranh khéo với ai, tính lại ưa ẩn dật, không cầu vọng cũng không mong ai biết đến.

Dưới thời Tây Sơn, tuy có ra vào nhà quan dạy học cũng việc bất đắc dĩ, hoàn toàn không một chút nào có ý ham muốn gì.

Cha tôi có bài thơ Nôm vịnh "Lan trong hang tối" như sau:

 

Bôn ba mất kẻ lợi đầu ruồi

Hang thẳm riêng mình ngẫm cũng xuôi

Non biết mây âm dù chí muộn.

Vườn hồng gấm dệt vốn lòng nguôi

Đá không biết báu còn đưa nhị,

Đầu chẳng cầu danh lựa đến đuôi.

Cầm tháo ví không phu tử dặng,

Thế gian mấy kẻ biết thăm nuôi.

 

(Phạm Văn Trị thường hội họp thầy và bạn đốt hương làm văn, ra đề thơ để đua tài làm vui. Một hôm ra đề là "U cốc" hạn dùng năm vần: Ruồi, xuôi, nguôi, đuôi, nuôi. Cha tôi lấy bút làm ngay. Tứ thơ vượt lên trên sự vật mà có ý lánh đời). Cha tôi thường lấy cớ việc nhà neo đơn, con cái còn nhỏ để lui về dạy học trò ở nhà. Tuy hoài bão chất chứa của cuộc đời không biểu hiện ra thành công danh sự nghiệp gì lớn, nhưng công ơn giáo dục của người lan tỏa không những chỉ giúp cho những người hậu sinh còn phải than thân và ngoảnh mặt vào tường than dốt mà ngay cả những người đã theo học đã hiển đạt. Về việc phụng thờ tổ tiên, cứ đến giỗ chạp thì trước đó hai ngày, quét dọn, lau chùi đồ cúng tế, bày biện chỉnh tề, bản thân người tắm rửa sạch sẽ, ngưng thần tĩnh niệm, kính cẩn như khi các cụ vẫn còn sống. Lễ dâng hương tiến cúng thì không giữ nỗi thổn thức, ai nghe cũng mũi lòng. Đến việc thờ Phật Bà Quan Âm lại càng kính cẩn, người thường nói: Đạo Nho lấy "Minh đức chí thiện" để trở thành bậc quân tử. Đạo Phật lấy "Minh tâm kiến tính" để hướng thành Phật đạo, đại để là điều khuyên người ta bỏ điều ác hướng đến điều thiện mà thôi. Gia đình ta thờ Phật để gợi tấm lòng Bồ Tát cũng không có gì trái với đạo Nho.

Cha tôi đối với chị và em gái rất là vui vẻ, niềm nỡ, dốc lòng yêu thương. Cô cả tôi là Thị Nhàn đã ốn 2 năm, cha tôi lo từ việc cơm cháo đến thuốc thang không , không tiếc công lao khó nhọc, không ngại tốn phí, cần ăn thứ gì thì Người cũng gội mưa, lội nước tìm cho được. Em gái Người là cô Thị Huế ngẩu nhiên bị cảm. Người thân hành đi hái thuốc về giã đắp lên người cho đến khi khỏi hẳn. Buôn bán bị lổ vốn, Người làm văn tự vay mượn để giúp kế sinh nhai. (Cha tôi cả đời chưa vay ai, nhưng vì em nghèo nên phải làm theo). Tiếp đó, cô tôi bị ốm rồi mất ở ấp Hà Lạc, Người sắm  sử áo quan tự tay chôn cất, người em họ là Quang Bố ốm mất ở Cự Lại, Người vội vả đến tận nơi, tất tả lo toan, khóc lóc thảm thiết, đến nay mọi người còn khen ngợi.

Đối với các con thì giảng giải thơ, văn ngày đêm dạy bảo, khuyên răn nghiêm khắc như một ông thầy nhưng cũng chưa từng tuỳ tiện sai bảo việc lặt vặt để các con tập trung vào việc học.

Đối với họ hàng: bà cô họ là Đặng Thị Thấy, ông cậu bên họ mẹ già thường đến nhà ăn ở, Người hết sức phụng dưỡng, khi cần lại cung cấp cả áo quần. Các cháu Trương văn Thìn, Trương Thị Tý có xin quần áo, gạo tiền cha tôi cũng giúp đỡ ngay.

Đối với bố mẹ vợ, lúc các Cụ còn sống thì phụng dưỡng tận tình. Còn nhớ khi ông ngoại tôi (Cụ Phan Bá Khoa) còn sống Người thường bảo mẹ tôi xem cụ thích ăn gì thì làm thứ đó. Khi bà ngoại tôi đến chơi thì cơm nước đầy đủ. Nếu các con có lỗi thì gọi ra ngoài vườn xa nhà răn đe, không hề lộ một tiếng nào trước mặt bà. Khi các Cụ mật thì chôn cất cũng hết lòng hết sức. Năm Ất Tỵ (1785), tháng Giêng, ông ngoại tôi mất: tháng ba Canh Thân (1800) bà ngoại mất, phí tổn về hai đám tang của các Cụ, Người cùng các cậu lo không nề tốn kém.

Với bên nhà vợ cha tôi cũng lo toan như đối với anh em ruột thịt. Các cháu đến học thì tùy theo thiên tư từng cháu mà bảo ban, đến nay trình độ văn học theo kịp các họ khác đều là công dạy bảo của Người.

Đối với bạn bè thì lấy đạo lý cư xử với nhau, lấy tình nghĩa tiếp đãi nhau không khác gì cùng cốt nhục, công việc làm không giống nhau nhưng

nghĩa tình thì như tay nắm tay mà tâm sự với nhau vậy.

 Đối với bạn bè thì lấy đạo lý cư xử với nhau, lấy tình nghĩa tiếp xử nhau không khác gì cốt nhục, công việc làm tuy không giống nhau nhưng nghĩa tình thì như tay nắm tay mà tâm sự với nhau vậy.

Đối với học trò thì tùy theo từng tài năng mà dạy nhiều người thành đạt, tiền học đưa nhiều hay ít Người không quan tâm.

Đối với công việc trong xóm làng thì hăng hái đóng góp, như khi có

việc đắp đường sửa cầu, xây dựng đình chùa thì đưa cơm, đưa thuốc không nề hà phí tổn.

Về việc ăn uống của người thì ngày hai bữa, có ba món, chỉ cốt thích hợp khẩu vị và ưng ăn nóng sốt. Hôm nào có món ngon cũng không ăn quá mức, người thích nhất là thuốc lá và trà. Trà thì tìm cách dự trử để giữ được hương vị. Mùa xuân, mùa hè ngày uống một lần, mùa thu, mùa đông ngày uống hai lần, dù rất bận cũng không bỏ. Thuốc lá cũng luôn trữ sẵn để hút. Rượu thì khi có người cùng uống thì người mới cầm chén, đến mức vui thì thôi, không bao giờ quá chén đến mức nghiêng ngã mất tư thế.

Về mặc thì cốt là tằn tiện, không ưa lòe loẹt thích nhất là màu đen và trắng, các màu như đỏ, tím, hồng thì chưa bao giờ mặc. Người không chịu được gió rét, hễ có gió thu thì dùng khăn phủ trên đầu để tránh khí lạnh, gần đây thường đội  mũ Quan Âm. Cuối thu, đầu đông tuy trời không lạnh lắm cũng mặc áo kép. Ngày tôi còn ở Thanh Hóa có mua biếu người một cái áo màu lông chồn, người rất thích và thường mặc.

Khi ở nhà hay ra ngoài đường thì mùa xuân đi giày, mùa thu đi guốc, dù có việc gì gấp cũng không bao giờ đi chân đất. Người có mấy cái gậy bằng trúc Giang lăng, nhưng đi lại vẫn còn thuộc loại khỏe nên chưa từng chống gậy, khi nào đến các nhà con mới chống gậy cho vui mà thôi.

Trong sân đắp một hòn non bộ và trồng đầy cúc nhiều màu, ở chỗ ngồi thì đặt một thống vuông trồng cây dành dành, lại có một cái bể nuôi mấy con cá vàng để tiêu khiển.

Còn đàn hát, cờ bạc thì người cho là rất hại cho công việc, bại hoại gia phong nên từ nhỏ đến già người chưa từng ngó đến.

Đây là thực sự về hành trang của người, phẩm hạnh của người còn được truyền tụng trong xóm làng.

Hoài bão của người là trông vào con cháu.

Há chăng phải như vậy sao !

Lễ Trai Đặng Văn Hoà (1781-1856)

Nguồn: danggiathemy.com

Danh sách mới hơn
Danh sách cũ hơn