Trang chủVăn thơPhác họa diện mạo thơ Đặng Minh Bích (1453- ?)

Phác họa diện mạo thơ Đặng Minh Bích (1453- ?)

Thứ Năm, 22/08/2013

Tác phẩm của Đặng Minh Bích còn 23 bài thơ (20 đề mục) chép trong Toàn Việt thi lục. Sách Tổng tập văn học Việt Nam(1) đã dịch được 4 bài; còn lại có lẽ thơ Đặng Minh Bích chưa từng được giới thiệu ở đâu. Tác phẩm của họ Đặng tuy được Lê Quý Đôn chọn không nhiều, nhưng cũng không ít nếu so chung với các tác giả khác được tuyển trong Toàn Việt thi lục. Qua 23 bài thơ, người ta hình dung thấy được diện mạo văn học khá rõ nét của một tác gia.

 Lại Văn Hùng - Viện Văn học

Đặng Minh Bích sinh năm Quý Dậu (1453), chưa rõ năm mất, tên tự là Ngạn Hoàn, người xã Bạch Đường, huyện Nam Đường (nay là xã Lam Sơn, huyện Đô Lương, Nghệ An). Thi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân năm Giáp Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 12 (1484), được bổ chức Hàn lâm viện Hiệu thảo, rồi thăng dần tới Thượng thư. Hiện chưa rõ ông mất năm nào, nhưng căn cứ vào năm đỗ thi (1484), khi đó ông đã 32 tuổi ta, thì có thể đoán định ông tham gia quan trường và sáng tác thơ văn vào quãng hơn 10 năm cuối thời Hồng Đức (từ 1484 đến 1497). và rất khả năng còn kéo dài tiếp qua đầu thế kỷ XVI nữa.

Tác phẩm của Đặng Minh Bích còn 23 bài thơ (20 đề mục) chép trong Toàn Việt thi lục. Sách Tổng tập văn học Việt Nam(1) đã dịch được 4 bài; còn lại có lẽ thơ Đặng Minh Bích chưa từng được giới thiệu ở đâu. Tác phẩm của họ Đặng tuy được Lê Quý Đôn chọn không nhiều, nhưng cũng không ít nếu so chung với các tác giả khác được tuyển trong Toàn Việt thi lục. Qua 23 bài thơ, người ta hình dung thấy được diện mạo văn học khá rõ nét của một tác gia.

Theo Đặng Tộc Đại Tông Phả, Yến Quận công Đặng Tiến Thự viết năm 1683, Tiến sĩ Ứng Quận công Đặng Đình Tướng tục biên năm 1686, Thái Nhạc Quận công Đặng Sĩ Hàn tiếp tục tục biên năm 1745, Nguyễn Văn Thành giới thiệu, NXB Văn hóa Thông tin 2002 và Gia phả ở Bạch Đường - Đô Lương - Nghệ An thì Đặng Minh Bích là con trai của Đặng Trọng Trân, cháu 5 đời của Quốc công Đặng Tất

HĐMT

Như Hoàng Đức Lương, Đàm Văn Lễ và một số thi nhân khác cùng thời, thơ Đặng Minh Bích thường hướng ngòi bút của mình vào việc miêu tả thiên nhiên, cảnh vật. Đây là cảnh mùa xuân:

"Đình tiền túc vũ đài ngân lạc,

Tĩnh khán kim tiền đĩnh thượng hoa".

(Xuân nhật tức sự)

(Mưa đêm, trước sân rêu phủ xanh,

Lặng nhìn khóm kim tiền trong chậu nở hoa)

(Tức sự ngày xuân)

Không gian là hẹp, cảnh vật không quá rực rỡ, tráng lệ, tuy khá khiêm nhường nhưng thật tươi tắn. Những đóa kim tiền nở nổi bật trên nền rêu xanh trước sân sau mưa. Đó là một bức tĩnh vật mà nhà thơ thì “tĩnh khán”. Ở một bức tranh khác, cũng về mùa xuân, cảnh sắc có phần sinh động hơn bức tĩnh vật vừa thấy:

"Thiên hòa phong mãn chuyển hoàng ly,

Liễu ảnh âm âm nhật chuyển trì.

Vũ hậu mãn đình đài tiên hợp,

Trường xuân phiến phiến nhật yên chi".

(Xuân nhật)

(Trời lạnh gió ấm chim hoàng ly líu lo,

Mặt trời chuyển chầm chậm dưới bóng liễu râm mát.

Sau mưa, khắp sân rêu mọc tươi xanh,

Hoa nguyệt quý từng cánh rũ phấn bay suốt ngày).

(Ngày xuân)

Và khung cảnh cũng rộng thoáng hơn. Hay nói cho đúng là khung cảnh được quan sát từ rộng đến hẹp, từ cao xuống thấp. Cuối cùng điểm dừng của tác giả vẫn là sân rêu xanh và những cánh hoa nguyệt quý. Khác với bài trên, cảnh ở đây không tĩnh, bốn câu thơ là bốn cảnh động. Chúng như mùa xuân đang quẫy cựa, đang thay sắc, thậm chí thay cả giọng điệu (tiếng hoàng ly dường như hay hơn trong cảnh “trời lành gió ấm”).

Đặng Minh Bích miêu tả cảnh xuân khá đẹp. Các bức tranh xuân của ông dù tĩnh, dù động đều có sắc thái riêng so với thơ xuân của các tác giả khác. Khi sang hè, cảnh vật hiện lên trong thơ Đặng Minh Bích cũng rất đẹp:

"Lưu hoa huỳnh hoa chiếu thư hiên,

Bảo triện sơ tiêu thẩm thủy yên.

Tĩnh tảo môn đình vô tục sự,

Lục âm thâm xứ nhất thanh thiền".

(Hạ nhật từ)

(Màu hoa lựu, lửa đom đóm chiếu sáng bên hiên sách,

Triệu báu vừa rửa đượm khói hương trầm.

Lặng lẽ quét sân cửa, không dính dáng đến việc cõi tục,

Dưới bóng cây râm nghe tiếng ve kêu).

(Bài từ ngày hè)

Đây là thơ chữ Hán sau thế hệ Nguyễn Trãi hoặc sau Lê Thánh Tông một chút. Để thấy cảnh mùa hè được đặc tả qua mấy biểu tượng: hoa lựu, đom đóm, tiếng ve sầu là cảnh đã thành mẫu mã. Thơ mùa hè sau này đều không ra ngoài mấy biểu tượng ấy. Nhưng cảnh (ngày hè) ở đây còn có mối quan hệ với tâm. Đó là cái tâm thanh sạch, nhàn nhã và có ý lánh tục, lánh đời. Thậm chí lánh vào tận non xanh:

"Vũ dư thạch đắng thảo thương đài,

Tiểu ẩn sơn trung thiểu vãng lai.

Thanh trúc quyển liêm tùy tĩnh tọa,

Xuân phong mãn viện bích đào khai".

(Sơn trung hữu cảnh)

(Bậc đá còn ướt mưa, rêu cỏ phủ xanh,

Trong núi “tiểu ẩn”, ít người qua lại.

Ngày vắng vén rèm tùy nơi ngồi lặng,

Gió xuân đầy viện, đào biếc nở).

(Cảnh trong núi)

Thậm chí lánh vào nơi nước biếc:

"Vạn khoảnh yên ba tác điếu đồ,

Tùy duyên trạo đoản dữ bồng cô.

Thị phi bất đáo biển chu thượng,

Phong địch nhất thanh nhàn Ngũ Hồ".

(Ngư phủ)

(Vạn khoảnh sóng khói làm kẻ đi câu,

Lênh đênh với chèo ngắn và mái thuyền đơn độc.

Chuyện thị phi không bén đến bên lá thuyền nhỏ,

Tiếng sáo vút lên nhàn nhã khắp Ngũ Hồ).

(Ông chài)

Cuối cùng tìm nơi ẩn cư, xa lánh hẳn thị tứ đô hội:

"Quy đắc thành Đông địa nhất cung,

Thị huyên bất đắc thử hồ trung.

Khả nhân thi tứ niên niên hữu,

Nguyệt hạ mai sao trúc lý phong".

(Thành Đông cư)

(Quây khu đất nhỏ phía Đông thành,

Không chút phồn hoa rộn tới mình.

Cảnh vật quanh năm thơ vẫn hứng,

Trăng lồng mai trắng, gió tre xanh)(2).

(Nhà ở phía Đông thành)

Cả mấy bài cảnh đều đẹp. Cảnh núi không đến nỗi quá hoang vắng, lạnh lẽo mà có khi còn khá ấm áp trong tiết xuân, đào biếc. Cảnh nước thì mênh mang, thắm vời trong tiếng sáo gợi một chốn Đào Nguyên. Cảnh ẩn cư thì tĩnh mịch có trăng, có gió, có mai, có trúc. Cảnh ấy cũng không quá buồn, quá hiu hắt. Nhưng cảnh đó đậm vẻ cô đơn, tĩnh mịch. Con người cô độc giữa đá núi. Con người trốn “thị phi” và thật nhỏ bé, tưởng như hòa lẫn, mất hút giữa sóng nước Ngũ Hồ. Con người cũng phải rời xa cái không gian người ồn ã của những chốn phồn hoa để tìm cho mình một “Góc thành Nam” mà thả thi tứ cùng cảnh vật. Hình ảnh con người ẩn nhàn, lánh đời lại thấy hiện hữu, khác xa với con người “nhập thế” của văn chương thời thịnh.

Nhưng không chỉ có thế. Cảnh vật thiên nhiên trong thơ Đặng Minh Bích còn gắn với những xúc cảm lãng mạn. Mùa thu về, cảnh sắc đổi thay, lòng người xao động:

"Thu nhập giang phong hồng diệp hi,

Kim phong tạc dạ thấu la duy.

Chinh hồng thanh đoạt Tây lâu ngoại",

Hà xứ du nhân cửu vị quy.

(Thu hoài)

(Thu đến cây bàng lá đỏ hoe,

Gió vàng đêm trước lọt màn the.

Lầu Tây ngoài vắng, hồng buông tiếng.

Du khách nơi nao mãi chửa về)(3).

(Nhớ thu)

Ai về ? Kẻ lãng du nào đó hay chính là tác giả? Mùa thu gợi người ta nhớ nhung cố hương, nhớ nhung những kỷ niệm; mùa thu thường khiến người ta quay nhìn lại quá vãng, khiến người ta hồi cố và khiến tiếng lòng rung lên. Tác giả Ức cổ nhân (Nhớ người xua) và người xưa ở đây là một người đẹp:

"Mỹ nhân nhất biệt kỷ thu phong,

Dao đối thanh sơn nhận cựu dung.

Tạc dạ mộng trung vô hạn tứ,

Sương thiên, tà nguyệt mãn thành chung".

(Cách vời người đẹp mấy thu qua,

Xa ngắm non xanh tưởng dáng xưa.

Trong mộng đêm qua khôn xiết nhớ.

Trăng tà, chuông gióng, trời sương sa)(4)

Nhớ người đẹp, nhớ tuổi xuân đã trôi qua và tác giả đi tìm trong mộng tưởng. Cái mộng ấy chẳng phải là thực, nó chỉ có thể đẹp như đã từng có - may lắm là thế. Mộng càng ảo, càng buồn, càng da diết khi mà trời thu được điểm xuyết bằng tiếng chuông chùa đủ gợi, bằng mảnh trăng tà đủ soi thấu, bằng một màn sương sa đủ lạnh.

Đã thấy cảm thức về thời gian qua việc miêu tả cảnh vật. Cảm thức đó càng rõ nét khi nhà thơ ngắm vầng trăng thu mà suy ngẫm:

"Ngọc tác lâu đài thủy tác thiên,

Thập phần thu sắc nguyệt thuyết quyên.

Bách niên như mộng nhân tri phủ,

Nhất độ kim tiêu hựu cách niên".

(Thưởng nguyệt ngẫu thành)

(Ngọc xây lâu dài, nước in màu trời,

Sắc thu trọn vẻ, trăng đẹp tròn.

Trăm năm như giấc mộng, người ta có biết chăng?

Cứ một lần như đêm trăng nay, một năm lại qua đi)

(Ngắm trăng ngẫu nhiên làm thơ)

Cảm hứng lãng mạn trong mấy bài thơ thật lạ mà cũng thật đẹp. Vì đều gắn với mùa thu? Vì đều chan hòa những cảnh? Có lẽ thế. Nhưng hơn tất cả, còn vì đó đều là những xúc cảm mang sắc thái cá nhân của một thi nhân từ thời trung thé kỷ mà lại khá hiện đại. Kẻ du tử xa mãi chưa về kia có gì đó giống với những khách giang hồ thời thơ mới sau này. Cái giấc mộng người đẹp cũng vậy. Cái tâm thức về thời gian cũng thế. Mà cũng không hẳn đến thời thơ mới mới có. Dường như đấy là những câu chuyện muôn đời, muôn thuở. “Trăng hôm nay từng soi người thời xưa” và trăng hôm nay lại soi người mai hậu. Con người thật hữu hạn và bé nhỏ trước thời gian vô cùng vô tận. Đó là vấn đề thân phận, vấn đề bi kịch, lại là cái bi kịch suy cho cùng là lớn nhất. Bánh xe trăng cứ xoáy mãi, khuyết tròn đắp đổi, và dưới cái ánh sáng thật long lanh kỳ ảo đó, con người, những kiếp người cứ trôi qua, trôi qua, không ngừng nghỉ.

Bên cạnh đề tài thiên nhiên gắn với tâm trạng nhàn tản, với tâm hồn lãng mạn, với những suy tư có ý nghĩa triết lý về thời gian và thân phận con người, thơ Đặng Minh Bích cũng còn thể hiện một vài đề tài khác nữa. Thí dụ như vịnh sử. Đặng Minh Bích có mấy bài tương đối giá trị. Vịnh việc Quách Cự chôn con (Quách Cự mai nhi), tác giả đề cao cả từ lẫn hiếu:

"Tử tu chính hiếu phụ tu từ,

Quách thị đương sơ diệc vị tư.

Thiên dục hiếu từ đô lưỡng đắc,

Hoàng kim phân thục huyệt trung nhi".

(Người con phải chí hiếu, người cha phải từ tâm,

Lúc đầu họ nhà Quách kia cũng chưa nghĩ đến.

Trời muốn cho cả hiếu và từ đều được cả,

Nên mới đem vàng cho để chuộc mạng đứa trẻ trong huyệt).

Vịnh Miếu Hai Bà Trưng (Nhị Trưng miếu), tác giả viết:

"Lục thập dư thành tận vọng phong,

Thùy tri nữ tử diệc anh hùng.

Đương thì khởi đặc bình Tô Định,

Mã Viện cơ phi “Quắc thước ông”.

(Hơn sáu mươi thành hết sức trông,

Ai hay nhi nữ cũng anh hùng.

Há riêng Tô Định tan thần xác,

Mã Viện chi còn “Quắc thước ông”)(5).

Trong rất nhiều bài thơ vịnh về Hai Bà Trưng và sự nghiệp của Hai Bà thì đây là một trong những bài vịnh hay. Đó là ở chi tiết có liên quan đến Mã Viện. Hai Bà tuy thua trận, nhưng khí thế và tinh thần quả cảm, nhất là cái uy phong “anh hùng” của những người vẫn bị coi là phái yếu đã làm át vía những kẻ mày râu, những kẻ từng được coi là danh tướng của phương Bắc.

Hoặc như đề tài về người cung nữ. Tác giả viết bài Cung oán (Nỗi oán hận của người cung nữ):

"Xuân sầu điểm điểm dục vong san,

Tâm tư tri tâm thoại xuất nan.

Nhàn ỷ chu lâu thời tựu sáp,

Bán lưu tàn phấn bán lan can".

(Nỗi sầu xuân cứ dâng, biếng quên cả ăn uống,

Lòng tự biết lòng, nói ra thật khó.

Lúc thì nhàn vắng tựa bên lầu son, có lúc lại trằm trọc bên gối,

Son phấn tàn nửa rũ bên chăn nệm, nửa in bên lan can).

Thì rõ là cảnh người cung nữ bị rơi vào cảnh “nhàn”, cảnh vắng. Sầu ở đây là “xuân sầu”. Mà không có ai chia sẻ. Thời Trần cũng đã có thơ về hình ảnh cung nữ nhưng tươi tắn hơn; và cũng đã có các trạng huống “tâm ngữ tâm” nhưng không phải cái “tâm tự tri tâm” như ở đây. Dường như đã có sự kìm nén của cái vô thức. Sự kìm nén đó không thể giãi bày, nhưng lại được biểu hiện bằng hành động. Những hành động biểu thị cái tâm thế đợi chờ đến khắc khoải. Và sự đợi chờ ấy là vô vọng. Nỗi sầu buồn, sự kìm nén không được giải tỏa. Đó là một ẩn ức lớn. Ẩn ức đó như một tiếng thở dài xuyên suốt thời quân chủ. Trong văn chương, phải nói Đặng Minh Bích có công góp phần mở màn cho một đề tài mới, rồi đây, ở các thế kỷ sau sẽ trở thành một trong những đề tài chủ lưu của văn học nói về người cung nữ, nói về cái nhìn nhân đạo đối với con người.

Tóm lại, ta được biết về Đặng Minh Bích không nhiều. Cuộc đời và hành trạng của ông chỉ là những nét phác họa. Thơ ông còn lại hoàn toàn chỉ là tứ tuyệt, và ông cũng là bậc thầy của thể loại này. Thơ Đặng Minh Bích kiệm lời mà đa cảnh, hàm tình. Một số tác phẩm cũng động chạm được tới những vấn đề lớn trong văn học sử. Ông là một tác giả phi quan phương nữa của văn học thế kỷ XV, bắt nhịp sang văn học thế kỷ XVI với trào lưu nhân văn hướng về con người trần thế.

Chú thích:

(1) Tổng tập văn học Việt Nam. Tập IV, Nxb. KHXH, H. 2000, tr.817-820.

(2) Bản dịch Hoàng Việt thi văn tuyển, Sđd., tr.818.

(3), (4) Bản dịch của Doãn Nhữ Tiếp, Sđd., tr.819-820.

(5) Bản dịch của Nhữ Hà, Sđd., tr.818./.

Danh sách mới hơn