Trang chủVăn thơTựa của Tô Lãng viết cho bộ “Đặng Hoàng Trung thi sao” của Đặng Huy Trứ

Tựa của Tô Lãng viết cho bộ “Đặng Hoàng Trung thi sao” của Đặng Huy Trứ

Thứ Tư, 11/12/2013

TÔ TỰ

    Ngã thánh triều:  văn mệnh hà phu, thanh giáo tứ ngật, đông tiệm tây bị, ký vu sóc nam võng bất cổ xuý. Hưu minh hoà kỳ thanh dĩ minh quốc gia chi thịnh, thị dĩ gia bảo Kinh sơn chi bảo, nhân ác linh sà chi châu, tức ngoại phiên tân phục, dịch sứ lai du loại giai vận hiệp phi di ngâm công cạnh bệnh.

    Yếu kỳ thất bộ tài cao, bát thoa thủ mẫn hữu như Nam quốc Bố chánh sứ Hoàng Trung tiên sinh giả hồ?

    Tiên sinh thiếu hữu thần đồng chi mục, trưởng yêu đặc đạt chi tri, xuất chưởng vi viên, nhập ưng hàn chuyển, tức cảnh ngôn tình.

    Thi phân bát thảo (1), bản cổ nhân nhất quan nhất tập chi chi di ý.

    Đệ nhất thảo: Đồng học nhật sở trước giã.

    Đệ nhị thảo: Thí trúng cử nhân sở trước giã.

    Đệ tam thảo: Hậu bổ Tri huyện dĩ hậu sở trước giã.

    Đệ tứ thảo: Thăng Thanh Hoá Thông phán dĩ hậu sở trước giã.

    Đệ ngũ thảo: Thụ Quảng Xương tri huyện dĩ hậu sở trước giã.

    Đệ lục thảo: Nhập vi Hàn lâm sở trước giã.

    Đệ thất thảo: Quảng Nam Bố chánh dĩ hậu sở trước giã.

    Đệ bát thảo : Đông hành sở trước giã.

    Ất sửu tuế thu nhật tiên sinh dĩ sự lai Việt. Dư đắc dữ bảo nghệ ư Dương thành lữ thứ, thi tửu ngôn chí tương đắc thậm hoan. Hạ nhật xuất kỳ thi tập trưng tự ư dư. Dư lãng tụng nhất chu giáo tư khế nhân tâm, luyện cương nhiễu chỉ, thanh tân tuấn dật, mỹ bất thăng thu. Kỳ gian sơn chi thiệp lịch, phong thổ chi du dương, xuất nhập phong nghị chi ung dung, dân sinh quốc kế chi trù hoạch nhất nhất kiến ư ngâm vịnh.

Cố trữ trung mẫn tắc đẳng ư Đỗ Công Bộ,

Tả tính linh tắc tỉ ư Bạch Hương Sơn.

     Nhi bút kỹ chi viên thục tắc nghi chư Nghi liêu chi lộng hoàn, Công tôn chi vũ kiếm bất thị quá giã.

     Dư học quí điêu trùng thức tàm lãi trắc, cụ cảm thao nguyệt đán chi bình. Nhiên mính hương, tửu thục vu thị biên nhi luận chi, đương bất dĩ dư ngôn vi a sở hiếu.

    Viên thư sổ ngôn dĩ phó khắc quyết. Tha nhật tái ngộ Tiên sinh đối án thân chỉ kỳ tất cánh hữu cộng  hân thưởng giả.

Đại Thanh Đồng Trị tuế thứ Ất sửu đông

thập nhất nguyệt ký vọng.

Ngu đệ Vĩ Đường – Tô Lãng

Bái thư.

 

TỰA CỦA VĨ ĐƯỜNG - TÔ LÃNG

VIẾT CHO BỘ “ ĐẶNG HOÀNG TRUNG THI SAO ”

IN NĂM ẤT SỬU – 1865

 

     Thánh triều tôi, văn giáo tỏa ra bốn biển, tiếng tăm và lời giáo hóa bay khắp mọi miền. Đông thì đổ ra biển cả. Tây thì tràn tới sa mạc. Bắc Nam thì thấm tận nơi xa xôi hẻo lánh, không đâu không ca ngợi công đức rực rỡ. Họa theo tiếng đó làm tỏ sự cường thịnh của Quốc gia, nhà nhà cũng có trong lòng của báu núi Kinh Sở, người người đều nắm được ngọc rắn thiêng trí tuệ.

     Khách nước ngoài thì tin phục, đến đi không ngớt đều là những bậc vần gieo hợp khúc, những thi nhân lỗi lạc.

    Nhưng tìm trong đó người tài cao, trí mẫn đi bảy bước thành thơ, tám lần chấp tay được ngay tám vần, hỏi có ai bằng quan Bố chánh nước Nam Đặng Hoàng Trung tiên sinh.

     Tiên sinh thuở nhỏ có khiếu thông minh của thần đồng, lớn lên học rộng đạt được sự hiểu biết hơn người, ra ngoài điều khiển ty Bố chánh; vào Nội giữ chức Hàn Lâm, đâu đâu cũng tức cảnh sinh tình.

    Thi sao chia 8 tập. Theo cổ nhân mỗi thời kì để lại một tập:

    - Tập thứ 1 sáng tác lúc nhỏ, những ngày còn đi học.

    - Tập thứ 2 khi đỗ Cử Nhân.

    - Tập thứ 3 khi hậu bổ Tri Huyện

    - Tập thứ 4 khi làm Thông phán tỉnh Thanh Hóa.

    - Tập thứ 5 khi làm Tri Huyện Quảng Xương.

    - Tập thứ 6 khi vào Viện Hàn Lâm.

    - Tập thứ 7 khi làm Bố Chánh tỉnh Quảng Nam.

    - Tập thứ 8 khi đi sứ Trung Quốc.

    Thu Ất Sửu -1865 Tiên sinh có việc đến Quảng Đông. Tôi được hầu tiếp ở lữ xá Dương Thành, bên chén rượu trao đổi thơ văn nói chí mình, mừng vui tương đắc.

    Những lúc rảnh, Tiên sinh đưa tập thơ cho xem muốn tôi viết lời Tựa. Tôi đọc liền một mạch, cảm thấy ý hợp tâm đầu, thực lòng mến mộ.

    Thơ thật là tinh luyện. Lời giản dị, ý nghĩa sâu xa, trong sáng và mới mẻ, phi thường và trác tuyệt, đẹp không gì sánh được.

    Trong đó đã lịch duyệt núi sông ca ngợi phong tục đất nước, từ chuyện khen chê can gián trong nhà hay ngoài xã hội đến việc trù hoạch quốc kế dân sinh đều thấy trong câu thơ lời vịnh.

Giãi tỏ lòng trung mẫn hẳn ngang với Đỗ Phủ.

Miêu tả bách tính sinh linh hẳn so được với Bạch Cư Dị.

     Bút pháp thì tròn trịa như thợ nặn đồ sứ ở Giang Tây, như Công Tôn đại nương múa kiếm.

    So sánh như vậy cũng chẳng có gì là quá đáng. Xin đừng coi lời tôi là dua nịnh người mình ưa!.

    Tôi thẹn mình tài học kém, chữ viết như vẽ giun, kiến thức như vỏ ngao đong nước biển, há dạm lạm tiếng phê bình!

    Nhưng trà pha đã thơm, rượu hâm đã nóng, nên cũng cứ ghi lại để luận bàn.

    Xin viết mấy lời đưa khắc in.

    Ngày nào đó được cùng Tiên Sinh tái ngộ, đối diện đàm tâm, lại mở trang sách ra ắt còn nhiều điều cùng mừng vui, thưởng thức.

Sau ngày rằm tháng 11, mùa đông Ất Sửu -1865

Đại Thanh, niên hiệu Đồng Trị

Ngu đệ Vĩ Đường – Tô Lãng

Bái thư

 

(1) sau này Đặng Huy Trứ sáng tác thêm 4 tập nủa, tổng số 12 tập.