Trang chủVăn thơBản phỏng dịch bài phú Đăng Lam Thành sơn hoài cổ (Đặng Nguyên Cẩn)

Bản phỏng dịch bài phú Đăng Lam Thành sơn hoài cổ (Đặng Nguyên Cẩn)

Thứ Ba, 17/06/2014

Đăng Lam Thành sơn hoài cổ là bài phú chữ Hán của Đặng Nguyên Cẩn (1866 - 1922), có sách chép đinh mão 1867 - quý hợi 1923, Đặng Nguyên Cẩn, trước là Đặng Thai Nhận, hiệu Thai Sơn, người làng Lương Điền, tông Bích Triều nay là xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An...Ông đỗ cử nhân khoa mậu tý năm Đồng khánh thứ 3 (1888), bổ giáo thụ phủ Hưng Ngyên, rồi đỗ Phó bảng khoa ất mùi, năm Thành thái thứ 7 (1895), thăng Đốc học Nghệ An, đổi Đốc học Bình Thuận .

Vũ Hoàng (Văn hóa Nghệ An)

   Là nhà nho lớp trẻ của một gia đình nho học yêu nước, ông sớm tham gia phong trào Duy tân do Phan Bội Châu lãnh đạo. Hoạt động trong phái ôn hoà (các tài liệu thường chép “Minh xã”), cùng Lê Văn Huân, Đặng Văn Bá mở Triêu Dương thương điếm ở Vinh, nhưng ông vẫn tán thành chủ trương bạo động (của phái ám xã”). Năm 1908, nhân vụ “Xin sưu”, ông bị bắt cùng nhiếu người trong Hội duy tân, bị đày ra Côn Đảo, đến năm 1921 mới được tha, về nhà ít lâu thì mất.

   Là một yếu nhân của Hội duy tân, tên tuổi Đặng Nguyên Cẩn thường gắn với Phan Bội Châu, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng . Trong Thi tù tùng thoại, cụ Nghè Huỳnh Thúc Kháng viết : “ Cụ Đặng Nguyên Cẩn là một nhà học rộng, sỹ phu Nghệ Tĩnh xem như núi Thái Sơn, sao Bắc Đẩu, là một người bạn già của cụ Sào Nam, ngoài Văn học ra không biết một thứ gì. Tướng cụ xấu, nếu như không quen biết mà mới gặp lần đầu,ắt cho là người không biết chữ nhất là một, mà ai có đè trong bụng như kho sách, khí áp nghìn quân, cái ngòi bút cổ kính thì không ai sánh, cùng cái tướng xấu quê đen sạm kia, mà hiệp thành cái lạ mà không ai có ”.

   Một phần thơ văn Hán, Nôm của Đặng Nguyên Cẩn được Huỳnh Thúc Kháng giới thiệu trong Thi tù tùng thoại, và một phần do người đương thời nhớ lại.

   Bài phú chữ Hán “ Đăng Lam Thành sơn hoài cổ ”, viết khi Đặng Nguyên Cẩn làm giáo thụ phủ Hưng Nguyên (cuối thế kỷ XIX), lấy vần “ Thập vạn quân thanh bán dạ triều ”, gồm 33 liên.

Giáo sư Đặng Thai Mai (con trai tác giả), viết trong Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX :

 “... Lối sống của các nhà nho là một lối sống trừu tượng...Họ thích hướng về đời sống nội tâm..., ký thác tâm sự vào những bài thơ, phú..., nhất là thơ lối Đường, phú lối Hán...Tuy vậy,...Thơ, phú của tầng lớp thanh niên có chí khí đã bao hàm một ý vị trữ tình, lạc quan và có phần tích cực hơn. Thơ tả cảnh, thơ tự sự ngụ ý, trào phúng, thơ hoài cổ với một nội dung ái quốc, chủ nghĩa lạc quan là một điệu mới của thơ trữ tình hồi này...”(ở) -  Bài thơ Thăng Long thành hoài cổ, thi sỹ cũng nói đến cuộc đổi thay trong lịch sử, đến mây trôi, nước khóc, nhưng đã kết thúc với một tiếng gọi, một yêu cầu, một lời giục giã mong chờ. Đó cũng là nội dung tư tưởng của những bài phú cùng một đề tài, như bài Đăng Lam Thành sơn hoài cổ phú, mà dưới đây là hai câu vần cuối :

“...Ký lai giả chi hữu tác hề,

     Dữ thử sơn nhi trường tiêu ”

( Mong rằng rồi đây có người đứng dậy (thì tên tuổi) sẽ được nêu cao mãi mãi với núi non này ).”

  Tôi chưa thấy có bản dịch bài phú theo nguyên thể. Nhưng từ hồi học lớp nhì năm thứ hai ở trường tiểu học, chúng tôi đã được thầy giáo Đậu Hà (nguyên hiệu trưởng trường tiểu học Diễn Châu, sau đó về trường tiểu hoc Đức Thọ ), dạy cho bản phỏng dịch bài phú của Thốc sơn Nguyễn Văn Trình.

 Dịch giả Nguyễn Văn Trình hiệu Thốc sơn, Thạch Thất (1872 -1949), sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng yêu nưởc xã Kiệt Thạch, nay là xã Thanh Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tỉnh. Ông đỗ hai khoa tú tài rồi đỗ cử nhân khoa đinh dậu (1897), đỗ tiến sỹ khoa mậu tuất năm Thành thái thứ 10 (1898) lúc 27 tuổi. Ông làm quan 27 năm, qua các chính chức (Tri phủ Hưng Nguyên, Anh Sơn, Thị lang bộ Hình, Bố chính Phú Yên) và giáo chức (Đốc học Thừa Thiên, Tế tửu Quốc Tử giám, Toản tu Quốc sử quán).

   Ông xin về hưu lúc 58 tuổi, được tặng Thượng thư trí sự.

   Nguyễn Văn Trình làm khá nhiều thơ, đặc biệt rất giỏi văn Nôm. Tác phẩm của ông tập hợp thành Thạch Thất thi tập. (Xuất bản năm 2004), với hai phần thơ sáng tác và thơ dịch trong đó có bài Đăng Lam Thành sơn hoài cổ phú của Đặng Nguyên Cẩn, bạn thân và bạn đồng liêu lúc ông ngồi Tri phủ Hưng Nguyên.

 Bản phỏng dịch (đúng ra là phỏng tác) này hiện có nhiều dị bản. Bản in trong Hợp tuyển thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX  cũng là bản in trong Hợp tuyển thi văn Việt Nam (tập IV), gọi chung là bản “Hợp tuyển”; ( HT). Bản củaThạch Thất thi tập, cũng ghi là theo Hợp tuyển TVVN        (T. IV), nhưng lại có nhiều chỗ khác, gọi là bản “Thạch Thất” (TT); Bản in trong văn thơ cách mạng đầu thế kỷ XX của Đặng Thai Mai, goị là bản Đặng Thai Mai (ĐTM).

 Chúng tôi dựa vào bản Đặng Thai Mai, và tham khảo hai bản trên, hiệu chỉnh chút ít để giới thiệu với bạn đọc.

                                                       Đăng Lam Thành sơn hoài cổ phú

                                Thốc sơn Nguyễn Văn Trình phỏng dịch .

 

 Hồng Lĩnh thiên thu chung tú khí

 Bồng sơn nhật toạ liệt Tiên cung.

 Khí Trung lang một đấng (a) hào hùng

 Văn Thái sử lạ lùng từ thủa bé.

 Đeo (b) cầm hạc ra chơi cận địa,

 Một non sông một vẻ lưu đề.

 Núi Lam Thành cao ngất bên kia,

 Trông (c) phong cảnh đi về không muốn chán.

 Một bầu rượu lên chơi khiển muộn,

 Khách cùng ta là bạn phong lưu.

 Tính tình tang nào thấy (d) gì đâu,

 Những đá mốc, suối rêu (đ) thành luỹ đó.

 Sực nhớ lại Trần Minh (e) chuyện cũ,

 Kìa tướng quân Trương Phụ nó xây (g) nên.

 Sóng kình nghê muốn nuốt Nam thiên,

 Mà (h) cột đá vững bền nhờ có kẻ.

 Quan Ngự sử một lòng trung nghĩa

 Sang cầu phong mà tháo lệ băng thanh. (1)

 Chữ (i) an bài nhờ có ông Xanh,

 Non nước (k) cũ rành rành đà định phận

 Lê Thái tổ Lam Sơn tích phấn,

 Một con dao nổi giận yên dân.

 Phất nghĩa kỳ quét sạch bụi trần,

 Còn cổ miếu tinh thần còn rạng thấy.

 Bây giờ thấy non kia thành ấy,

 Quạnh rêu xanh cỏ áy mịt mù (l) thay.

 Này đá xây, này mây phủ,

 Này tiếng còi mục thụ, này giọng hát ngư ông.

 Lên chốn này bằng điếu cổ phong,

 Thương ôi (m) nhẽ anh hùng đâu vắng tá!

 Thôi ta hãy đề thơ vào đá,

 Cho người xem tạo hoá khéo vần xoay.

 Kìa kìa kìa (r) bóng ngã về tây,

 Trông giang hữu áng mây còn giấp giới.

 Kho trời đất bấy lâu dành đợi,

 Sẵn con thuyền lại sẵn đêm trăng.

 Có nhân duyên lăng líu (o) với chị Hằng,

 Nhiều ân ái bâng khuâng cùng bạn (p) cũ.

 Chốn này (q) thực Đào nguyên tiên lộ

 Thử (r) ngâm thơ đọc phú mấy bài chơi:

 Ca tỳ bà réo rắt bên tai,

 Giọng sơn thuỷ trêu ngươi chi lắm vẻ?

 Tiên sinh ấy Thốc (s) Sơn tuổi trẻ, (2)

 Mà khách là chính hệ Thai Phong, (3)

 Vui này đợi khách non Bồng.     (1905)

 

Khảo dị :

 a- Bản ĐTM : đứng;

 b- Bản ĐTM và HT : Đem;

 c- Bản ĐTM và HT : Xem;

 d- Bản TT : Thú;

 đ- Bản HT : Suối reo - Bản TT :Phong rêu;

 e- Bản TT : Minh Trần;

 g- Bản TT : nọ gây;

 h- Bản TT : Song;

 i- Bản HT và ĐTM : Nhờ tầng trên;

 k- Bản ĐTM : Sông núi;

 l- Bản TT : Mỡ;

 m- Bản TT : Thán;

 n- Bản TT : Tà tà;

 o- Bản TT : dan díu;

 p - Bản HT : người;

 g- Bản HT : ấy;

 r- Bản HT và ĐTM : Sẽ;

 s- Bản TT : Sạc.

 

Chú thích :

      1- Hai câu này nói việc Nguyễn Biểu sang Lam Thành đi sứ cầu phong, bị Trương Phụ hại.

     2- Thôc Sơn hay Sạc Sơn là hai cách phiên âm khác nhau, hiệu của Nguyễn Văn Trình.

     3-Thai Phong hay Thai Sơn là hiệu của Đặng Nguyên Cẩn – Có tài liệu chép Thai phong là hiệu của cụ Đặng Thai Giai, (thân sinh Đặng Nguyên Cẩn).