Trang chủVăn thơĐặng Nhật Minh: Mẹ và Cha, cuộc chia ly vĩnh viễn...

Đặng Nhật Minh: Mẹ và Cha, cuộc chia ly vĩnh viễn...

Thứ Năm, 12/02/2015

"Cha tôi nằm bên xác mẹ tôi suốt một đêm, rồi sáng hôm sau chôn mẹ tôi ngay trên nền nhà trước khi rời Việt Bắc về tiếp quản thủ đô".

Gặp mặt

Tôi và mẹ tôi đi bộ còn hai em gái tôi có người cõng trên lưng. Trong đêm tối chúng tôi lẳng lặng đi theo sau những người dẫn đường. Một lần chúng tôi phải dừng lại nằm chờ bên một con đường nhựa, cách một lô cốt địch không xa. Chúng tôi giữ im lặng tuyệt đối để rồi lát sau chạy vụt qua đường khi có người ra hiệu. Tảng sáng chúng tôi đã đến bên bờ một con suối rộng. Bên kia là Chiến khu Dương Hoà, vùng tự do của ta. Nhưng từ đây đến Việt Bắc, chỗ cha tôi ở còn xa lắm. Phải 3 tháng sau  mới có cuộc trùng phùng. Mẹ tôi được cấp một giấy giới thiệu của Uỷ Ban Kháng chiến Tỉnh Thừa Thiên: Bà Tôn Nữ Thị Cung trên đường đi gặp chồng là Bác sỹ Đặng Văn Ngữ đề nghị các cấp địa phương hết lòng giúp đỡ. Mẹ tôi giữ nó trong người như lá bùa hộ mệnh. Cứ tới mỗi chặng giao liên, mẹ tôi lại chìa lá bùa đó ra. Địa phương lại cử dân quân dẫn đường và địu 2 em gái tôi (một lên 8 và một lên 10) đi tiếp.

Tôi sẽ không kể ra đây về những ngày trèo đèo lôi suối qua Liên u Ba rền để ra  Khu IV , rồi từ Khu IV ra Việt Bắc của mấy mẹ con chúng tôi vì đó là chuyện quá quen thuộc đối với bất cứ người nào đã qua hai cuộc Kháng chiến. Nhưng đối với mẹ tôi và ba anh em tôi ngày ấy là một chiến công.

Tôi còn nhớ như in giây phút khi Cha mẹ tôi gặp nhau bên bờ suối ở Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang, sau 7 năm xa cách. Cha tôi từ trên đồi chạy xuống còn mẹ tôi thì quay lưng đi, lội dọc theo con suối nhỏ…

Bà đã mong đợi bao lâu giây phút này nhưng khi nó đến, bà lại không đủ can đảm để đón nhận nó. Bà đã quá mệt mỏi vì đợi chờ, vì lặn lội đường xa, vì  đủ mọi gian truân vất vả không thể nào kể xiết trong những ngày xa cách.

Tiếp theo là những ngày hạnh phúc của sum họp, đoàn viên. Cha tôi mải mê với công việc chế tạo ra nước lọc Penicilline để cứu chữa những vết thương cho bộ đội ngoài mặt trận, giảng dạy cho khoá sinh viên 52 của Trường Y khoa Kháng chiến. Để được gần gũi cha tôi nhiều hơn mẹ tôi vào làm xét nghiệm viên trong phòng bào chế Penicilline của cha tôi.

Vợ chồng GS Đặng Văn Ngữ chụp ở Việt Bắc năm 1952.

Ảnh do gia đình cung cấp

Mẹ mất

Cha tôi là người Huế, thành phần Tiểu tư sản trí thức. Mẹ tôi là người Huế, thành phần quan lại phong kiến. Cả hai đều đi theo Cách mạng. Khởi đầu do cha tôi trong những ngày du học ở Nhật tình cờ đọc được lời kêu gọi toàn quốc Kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bèn từ bỏ tất cả công việc nghiên cứu khoa học để về nước tham gia vào sự nghiệp chung của dân tộc. Cha tôi đã từ Nhật Bản đáp tàu thuỷ về Thái Lan, tìm gặp đại diện của Chính phủ ta ở Bangkok  để xin về nước tham gia Kháng chiến, chẳng có một tổ chức nào giới thiệu, móc nối.  Ông làm việc đó như một lẽ tự nhiên, chỉ vì một động cơ duy nhất: Lòng yêu nước.

Biết bao vinh quang và khổ ải trên con đường đi theo lý tưởng của một người trí thức yêu nước. Đôi khi tôi tự hỏi không biết những người như cha mẹ tôi đã phải tự kiểm điểm những gì trong những cuộc chỉnh huấn trên Việt Bắc vào năm 1954? Không biết họ có phải ân hận về xuất thân thành phần giai cấp của mình để được coi là thành khẩn và điều đó có nhọc nhằn lắm đối với cha mẹ tôi không? Những điều đó tôi hoàn toàn không được biết.

Tôi chỉ được nghe kể rằng mẹ tôi chỉnh huấn rất thành khẩn, được biểu dương trong lớp. Còn cha tôi chỉ im lặng, ít nói. Không lâu sau khi tham dự lớp chỉnh huấn đợt một thì mẹ tôi qua đời. Khi bà hôn mê, cha tôi đang tham dự lớp chỉnh huấn đợt hai. Tôi đã không có trong mặt trong giờ phút lâm chung của mẹ tôi. Lúc đó tôi đang học mãi tận Nam Ninh bên Trung Quốc.

Sau này, tôi nghe Dì tôi kể lại rằng mẹ tôi hôn mê ba ngay ba đêm liền chờ cha tôi về mới trút hơi thở cuối cùng. Là bác sỹ nhưng ông đành bó tay bất lực vì đã quá muộn. Cha tôi nằm bên xác mẹ tôi suốt một đêm, rồi sáng hôm sau chôn mẹ tôi ngay trên nền nhà trước khi rời Việt bắc để về tiếp quản thủ đô. Đó là tổn thất lớn nhất của gia đình chúng tôi trong cuộc Kháng chiến lần thứ nhất.

"Người lính vô danh"

Những ngày sau hoà bình lập lại ở Miền Bắc công việc chính của cha tôi là tiêu diệt bệnh sốt rét. Cha tôi lại lặn lội trở về với những khu căn cứ địa cũ như Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Lào Cai... để thực hiện một chương trình chống sốt rét toàn diện và quy mô chưa từng có. Sau 10 năm thực hiện chương trình, bệnh sốt rét căn bản đã bị đẩy lùi trên Miền Bắc nước ta.

Trong những ngày ấy cha tôi luôn mang trong lòng nỗi nhớ không nguôi về mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình - xứ Huế. Ông luôn nuôi hy vọng trở về gặp lại Bà nội tôi, lúc đó đã cao tuổi lắm rồi, dù chỉ một lần. Nhưng đến ngày đất nước thống nhất có thể về được thì ông đã không còn. 

Ông đã mất trước đó 8 năm trong một trận bom B52 ở phía Tây Phong Điền Tỉnh Thừa Thiên. Ông cùng đồng nghiệp vào đây để nghiên cứu vaccine chống sốt rét cho bộ đội. Ông chưa tìm ra được vaccine miễn dịch sốt rét cho họ thì ông đã chia xẻ với họ cái chết. Ông  nằm trên Trường Sơn lặng lẽ suốt hai mươi năm cho đến khi tình cờ một người tiều phu phát hiện được mộ ông như mộ một người lính vô danh. Người ta đưa di hài ông về Nghĩa trang liệt sỹ xã Phong Mỹ và mãi năm năm sau anh em chúng tôi mới biết để đưa cha mình về nghĩa trang họ Đặng trên núi Ngự Bình. Sau 46 năm xa cách cha mẹ tôi cuối cùng đã về bên nhau.

Danh dự

Đầu Xuân Nhâm Ngọ nhà văn Nguyễn Khải từ Thành phố Hồ chí Minh gửi bưu điện ra tặng tôi một cuốn sách mới của anh có tựa đề Sống ở đời. Lật bìa sách ở trang đầu tôi đọc giòng chữ ông viết: Rất quý mến tặng Đặng Nhật Minh một cuốn sách tôi rất thích (nhất là truyện Danh dự). Khỏi phải nói, tôi liền đọc ngay một mạch truyện Danh dự.

Chuyện kể về một người hàng xóm trước đây của nhà văn trong Khu tập thể quân đội ngoài Bãi Phúc xá ven sông Hồng. Anh có tên là Quang, Thiếu tá Cục quân báo, người Huế, xuất thân từ tầng lớp thượng lưu. Cha là Bố chánh, ông nội là Thượng thư. Bản thân từng học trường giòng Providence ở Huế cho đến hết bậc tú tài. Quang tham gia cách mạng từ cuối năm 1945 làm công tác quân báo.

Nhà văn Nguyễn Khải đã đem mình ra so sánh với nhân vật Quang một cách rất thật thà: ông đi bộ đội chỉ vì một tính toán rất tầm thường: không vào bộ đội sớm thì chết đói! Còn Quang, nếu không đi theo Cách mạng thì vẫn là một công tử con ông cháu cha, ăn sung mặc sướng, vẫn có chỗ ngồi đàng hoàng trong xã hội cũ. Đến năm 1962, Quang được quân đội cho chuyển ngành sang làm công tác nghiên cứu ở Bộ Ngoại thương (chắc vì gốc gác thành phần không thích hợp cho việc tiếp tục ở lại trong quân ngũ).

Nhưng rồi đến năm 1964, Quang lại được trên điều trở về lại quân đội. Anh được cử vào Nam làm nhiệm vụ của một tình báo viên cắm sâu trong lòng địch để khai thác những tin tức bí mật. Với giấy tờ giả mạo Quang vào hoạt động ở Sài Gòn. Giữa nơi đầy hiểm nguy rình rập đó, Quang đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình bằng sự che chở, tiếp tay của họ hàng bà con xa gần, của bạn học cũ mà tất cả đều xuất thân như anh, từ những gia đình trí thức, quan lại.

Rồi Quang bị bắt và những người từng giúp anh cũng bị đưa ra tòa án binh Sài Gòn trong vụ án đặc biệt xử nhóm trí thức có liên hệ với cộng sản Bắc Việt. Quang mỉm cười sau khi nghe Toà tuyên án chung thân rồi nói với phóng viên Hãng thông tấn AFP bằng tiếng Pháp: Dans deux ans je reviendrai au Dinh Độc Lập (hai năm nữa tôi sẽ trở lại Dinh Độc Lập). 

Đọc xong truyện này tôi ngờ rắng đây là câu chuyện có thật, nhân vật Quang là nhân vật có thật. Tôi biết nhà văn Nguyễn Khải bao giờ cũng chỉ viết về những người và nhũng việc có thật. Ông không bịa được vì như ông từng nói: Thực tình người viết văn chẳng bịa được cái gì lạ hơn những biến hoá của mỗi mỗi gia đình trong hơn mười năm qua...

Tôi đem cuốn sách đến cho dì tôi đọc. Dì Toản là em mẹ tôi, từng là nữ sinh Đồng khánh,  cũng thuộc tầng lớp như Quang, cũng hoạt động ở Huế. Đọc xong dì tôi cười bảo tôi: anh Quang này thì dì không biết, chắc tác giả giấu tên. Nhưng những người mà Quang móc nối để hoạt động vì để tên thật nên dì biết, họ đều là bạn của dì cả. Bây giờ họ đều sống ở Thành phố Hồ chí Minh, một vài người sống ở nước ngoài.

Năm 1985, Quang về hưu, hưởng lương hưu trung tá. Đến đầu năm 1991 thì vào bệnh viện vì bị ung thư hạch. Khi nhà văn Nguyễn Khải vào thăm, ông mỉm cười tâm sự: Phận sự làm người đã xong, danh dự làm người trải qua nhiều thử thách không hề bị hoen ố, con cái đã trưởng thành, chí nguyện một đời nói cho cùng là mãn nguyện. Tiền không cần, danh không cần, còn cần gì nữa nào? Hết! Không còn gì phải tiếc nuối cả.

Tôi nghĩ, cha mẹ tôi, và cả cậu tôi nữa (người cậu liệt sỹ bị giam trong xà lim ngày nào) nếu còn sống chắc họ cũng nói như vậy. Cái động lực gì đã thôi thúc những con người ấy trong cả cuộc đời, theo Nguyễn Khải ấy là Danh dự.

Ông viết: Người ta sống không chỉ vì sự an toàn, mà còn phải sống trong danh dự. Không nói đén danh dự thật tình không có gì để nói để viết về con người cả, con người của hôm qua và con người của bây giờ. Có thể nói đó là Danh dự hay là Nhân cách cũng được. Bởi vì có Nhân cách con người mới biết sống trong Danh dự. Nhân cách là sản phẩm của văn hoá và giáo dục. Nó không phải là sản phẩm riêng của một giai tầng nào. Nó như một loài hoa chỉ mọc trên mảnh đất được chăm bón bởi  những giá trị bền vững của đạo đức.

Cách đây 6 năm có dịp sang Nhật, tôi đã lần tìm lại dấu vết của cha tôi trong những ngày du hoc tại đây.  Tôi gặp được một vài người từng quen biết cha tôi như Bà Seino, trợ lý cho cha tôi trong phòng thí nghiệm, Kỹ sư Lê văn Quý ở cùng một phòng trong Đông kinh học xá cùng cha tôi trong suốt 6 năm. Tôi được nghe kể rất nhiều mẩu chuyện cảm động về cha mình. Cuối cùng tôi được giới thiệu đến gặp Giáo sư Tomio Takeuch , Viện trưởng Viện Hoá vi sinh Tokyo.

Trên đường đi Bà Seino nói với tôi: Giáo sư Takeuchi là một bác học rất nổi tiếng ở Nhật. Ở Nhật bản này ông được xếp vào hạng người bất tử, nghĩa là được làm việc cho đến hết đời không phải về hưu. Giáo sư Takeuchi ân cần tiếp tôi trong phòng khách của Viện. Ông cho biết đã từng làm việc với cha tôi tại Trường Đại học Y khoa Tokyo trong 3 năm trước khi Nhật đầu hàng đồng minh.

Rồi ông nói: Nhưng tôi chỉ là đàn em của cha anh thôi. Hồi đó cha anh đã có nhiều công trình nghiên cứu được đánh giá cao trong giới Y học. Có một số công trình tôi viết chung với cha anh, nhưng tên ông bao giờ cũng để trên tên tôi. Ông là bậc đàn anh của tôi. Công việc nghiên cứu của ông đang tiến triển rất thuận lợi, không hiểu sao ông lại bỏ dở tất cả để về nước. Sau này nghe tin ông mất chúng tôi rất thương tiếc…

Giáo sư kể tiếp: Mà cũng lạ. Hồi ấy người Mỹ cũng đã bất đầu biết đến cha anh, mời cha anh cộng tác với họ. Nhưng rồi cha anh cũng từ chối. Tôi nghĩ ông có điều gì thôi thúc lắm ở bên trong.

Tôi nghĩ thầm: Giáo sư không hiểu tại sao cha tôi lại bỏ tất cả để về nước ư? Thưa Giáo sư, là vì cha tôi không muốn làm nguời đứng ngoài cuộc trong cuộc chiến đấu thần thánh của dân tộc mình. Nhân cách của cha tôi không cho phép ông làm như vậy. Ông cũng biết rằng nếu ông tiếp tục ở lại Nhật Bản làm việc cùng giáo sư, con đường khoa học của ông hẳn cũng rực rỡ như của giáo sư bây giờ. Nhưng ông đã chọn cho mình con đường khác, và đó có lẽ là một đặc điểm nổi bật nhất của người trí thức Việt Nam.

 ***

 Năm nào tôi cũng về Huế thăm gia đình. Mỗi lần về anh chị tôi đều dành cho tôi cả căn gác trên tầng 2 để nghỉ ngơi. Nơi đó trước đây là nơi ở của ông bà nội tôi, rồi đến vợ chồng ông Bác, anh cả của cha tôi.

Căn gác bây giờ chỉ dành làm nơi  thờ cúng. Nằm một mình trong đêm yên tĩnh, tôi có cảm giác như đang nằm giữa những ngưòi thân đã khuất. Nhưng họ không ngủ, mà cứ mở mắt chong chong nhìn tôi từ những khung ảnh trên bàn thờ. Trong cái không gian sâu thẳm đó, tôi bỗng nhận ra sự nhiệm mầu của mảnh đất này - xứ Huế. Ngoài kia, sông An Cựu vẫn thao thức chảy…

Theo Đặng Nhật Minh (bee.net.vn)