Trang chủVăn thơĐặng Minh Khiêm và tập thơ Vịnh sử thi tập

Đặng Minh Khiêm và tập thơ Vịnh sử thi tập

Thứ Ba, 30/07/2013

Đặng Minh Khiêm tự Trinh Dự, hiệu Thoát Hiên, thuộc dòng dõi Đặng Tất, Đặng Dung, nguyên quán ở huyện Thiên Lộc (nay là Can Lộc, Hà Tĩnh) sau di cư đến làng Mạo Phổ huyện Sơn Vi (nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ). Đặng Minh Khiêm thi đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân năm Đinh Mùi, niên hiệu Hồng Đức 18 (1487), đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan trải qua các chức như Hàn lâm thị thư, Tả thị lang Bộ Lại, sau thăng Thượng thư Bộ Lễ kiêm Phó tổng tài sử quán, coi việc ở Tú lâm cục và Chiêu văn quán.

HOÀNG THỊ NGỌ

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Trong thi ca Việt Nam thời Trung đại có một dòng thơ được hình thành và phát triển khá mạnh mẽ, đó là dòng thơ vịnh sử. Nhìn lại những thành tựu của dòng thơ vịnh sử Việt Nam có thể nói tập thơ Vịnh sử thi tập của Đặng Minh Khiêm là tập thơ vịnh sử cổ nhất được lưu truyền rộng rãi và làm khuôn mẫu cho nhiều tác gia thơ vịnh sử đời sau. Để rõ hơn về thơ vịnh sử Việt Nam thì không thể không tìm hiểu về thơ vịnh sử của Đặng Minh Khiêm.

Thơ vịnh sử thường được thể hiện bằng các bài thơ theo thể thất ngôn tứ tuyệt hoặc thất ngôn bát cú, có khi là cả một bài thơ dài vài trăm câu lục bát hoặc song thất lục bát. Mỗi bài thơ vịnh về một nhân vật lịch sử. Lời thơ ngâm vịnh sử thường mang ý vị sâu xa hoặc khen ngợi, thán phục, tự hào hoặc phê phán, chê cười những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam và Trung Quốc. Các tác giả thơ vịnh sử thường là các nhà sử học hoặc là những người rất am hiểu về lịch sử và đứng trên quan điểm Nho học để đánh giá khen chê các nhân vật lịch sử.

Thơ vịnh nói chung và thơ vịnh sử ở nước ta đã có trước thời Đặng Minh Khiêm khá lâu. Nhưng đến cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI mới thấy xuất hiện tập thơ tập thơ vịnh sử đầu tiên của Đặng Minh Khiêm là Vịnh sử thi tập. Điều đáng trân trọng là tập thơ Vịnh sử thi tập của Đặng Minh Khiêm chỉ vịnh về các nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Tiếp sau Đặng Minh Khiêm là Hà Nhậm Đại (1525-?) với tập Lê triều khiếu vịnh thi tập và Đỗ Nhân (1474-1518) với Vịnh sử thi tập cũng mô phỏng theo tập thơ Đặng Minh Khiêm để vịnh về các nhân vật lịch sử Việt Nam. Sang đến các thế kỷ sau xuất hiện thêm một loạt các tập thơ vịnh sử như Vịnh sử phú, Vịnh sử ca, Vịnh sử hợp tập, Vịnh sử hợp tập,... ghi chép thơ vịnh sử của nhiều tác giả nhưng đều là thơ vịnh về các nhân vật lịch sử Trung Quốc. Vịnh về nhân vật lịch sử Trung Quốc nổi bật hơn cả là các tác giả: Nam Sơn Chủ Nhân với Vịnh sử thi tập, Phạm Nguyễn Du với Độc sử si tưởng, Lãn Phu họ Trần với Ngoạn sử thừa hứng thi tập, Đoàn Can Mộc với Vịnh sử thi quyển,... Đến thế kỷ XIX, dòng thơ vịnh sử lại xuất hiện nhiều tập thơ vịnh các nhân vật lịch sử Việt Nam, tiêu biểu là Việt sử tổng vịnh (còn có tên Ngự chế tổng vịnh thi tập) của vua Tự Đức, Việt sử bách vịnh của Nhữ Bá Sĩ...

Trong các nhà thơ vịnh sử thì Đặng Minh Khiêm là tác gia nổi bật nhất, đóng góp nhiều nhất cho sự phát triển của dòng thơ này. Ông sinh và mất năm nào hiện chưa xác định rõ, có thuyết cho ông sinh năm 1456 và mất năm 1522. Đặng Minh Khiêm tự Trinh Dự, hiệu Thoát Hiên, thuộc dòng dõi Đặng Tất, Đặng Dung, nguyên quán ở huyện Thiên Lộc (nay là Can Lộc, Hà Tĩnh) sau di cư đến làng Mạo Phổ huyện Sơn Vi (nay thuộc huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ). Đặng Minh Khiêm thi đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân năm Đinh Mùi, niên hiệu Hồng Đức 18 (1487), đời vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan trải qua các chức như Hàn lâm thị thư, Tả thị lang Bộ Lại, sau thăng Thượng thư Bộ Lễ kiêm Phó tổng tài sử quán, coi việc ở Tú lâm cục và Chiêu văn quán. Đặng Minh Khiêm đi sứ nhà Minh 2 lần vào các năm 1502 và 1509. Năm 1522 ông theo Lê Chiêu Tông đi lánh nạn rồi mất ở Hóa Châu. Đương thời, ông nổi tiếng là người học vấn bác nhã, tính tình cương trực. Phan Huy Chú nhận xét ông: "... học vấn rộng rãi, chân chính, khẳng khái, có tiết tháo lớn". Trong lúc xã hội rối ren ông chỉ để chí ở sử học, ông cũng làm các công việc duyệt đọc, khảo cứu biên soạn các bộ sách sử.

Tác phẩm của ông có:

Đại Việt lịch đại sử ký (chưa tìm thấy)

Vịnh sử thi tập (còn có tên Việt giám vịnh sử thi, Thoát Hiên tiên sinh vịnh sử thi tập).

Có thể ông còn những tác phẩm khác nữa nhưng người đời biết đến ông nhiều vì ông là tác giả của tập thơ vịnh sử sớm nhất và được truyền tụng nhiều nhất, như Hà Nhậm Đại đã khẳng định "đến đâu cũng thấy người ta nói đến [thơ] Thoát Hiên".

Vịnh sử thi tập là tên của tập thơ trong văn bản in ký hiệu VHv.1506, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, bản được nhiều người biết đến và sử dụng làm bản nền khi nghiên cứu, tìm hiểu thơ vịnh sử Đặng Minh Khiêm. Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú ghi tên tập sách là Việt giám vịnh sử thi và ghi rõ "Đặng Minh Khiêm soạn. Đầu sách có phàm lệ 13 điều, những chỗ khen, chê, bỏ, lấy đều có ý nghĩa sâu xa đáng gọi là danh bút". Trong thư tịch, thơ Đặng Minh Khiêm còn lại chỉ thấy một bản in duy nhất ký hiệu VHv.1506 nói trên và nhiều truyền bản chép tay khác.

Bản in VHv.1506 có một bài tựa đề năm "Quang Thiệu ngũ niên cốc nhật Lễ bộ Thượng thư kiêm sử quan Đô tổng tài Tri chiêu văn quán Tú lâm cục Sơn Vi huyện Thoát Hiên Đặng Minh Khiêm Trinh Dự tự" (Ngày lành, mùa xuân, niên hiệu Quang Thiệu năm thứ năm (1520) Lễ bộ Thượng thư kiêm sử quan Đô tổng tài, Tri Chiêu văn quán, Tú Lâm cục là Đặng Minh Khiêm, hiệu Thoát Hiên, Tự Trinh Dự, người huyện Sơn Vi viết bài tựa). Sau bài tựa là phàm lệ. Tập Vịnh sử thi tập bao gồm 3 quyển : quyển thượng vịnh về các bậc đế vương ; quyển trung vịnh về những người trong tông thất và các bậc danh thần ; quyển hạ vịnh về những người được xếp loại: danh nho, tiết nghĩa, gian thần, nữ chúa, hậu phi, công chúa, tiết phụ. Toàn tập có 125 tiểu truyện và thơ vịnh về các nhân vật lịch sử từ Kinh Dương vương đến thời Hậu Trần. Các nhân vật lịch sử trong tập thơ đều được trình bày theo thứ tự : tên nhân vật, một bài tiểu truyện về nhân vật được vịnh bằng văn xuôi chữ Hán, cuối cùng là bài thơ vịnh theo thể thất ngôn tuyệt cú. Mỗi bài thơ vịnh chỉ gồm 4 câu 7 chữ nhưng đã khắc họa được từng chân dung nhân vật lịch sử với những nét tiêu biểu nhất. Nội dung của tập thơ như tác giả ghi trong bài tựa "vịnh sử sở tác hữu dĩ ngụ bao biếm dã" (Làm thơ vịnh sử chủ yếu là để gửi gắm cái ý khen chê). Tác giả đã "khen chê" theo quan điểm của một nhà nho, ca tụng những nhân vật có công tích với nước với dân trong chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước, những bậc vua sáng tôi hiền, những tấm gương tuẫn thân báo quốc, những tấm gương tiết liệt, ... với một niềm tự hào lớn lao về lịch sử quang vinh và phẩm chất cao quý của dân tộc. Tác giả cũng nghiêm khắc phê phán, lên án những gian thần phản dân, hại nước, những kẻ tham bạo, ngu muội, những hành động, xử thế làm ô danh, bại hoại đến nhân luân đạo đức, để tiếng xấu muôn đời... Mỗi nhân vật lịch sử trong thơ vịnh của Đặng Minh Khiêm thực sự là một tấm gương hoặc tốt hoặc xấu đáng để người đời soi chung theo quan điểm của tác giả. Tất nhiên trong tác phẩm còn nhiều hạn chế, nặng về mục đích giáo huấn nhưng về mặt khách quan nó vẫn hướng người đọc tới những phẩm chất cao đẹp hơn là những khuôn mẫu đạo đức luân lý nho giáo. Tập thơ đã được nhiều học giả xưa và nay coi là một thiên "danh bút", "một áng văn chương kiệt tác”, "đạt tới giá trị mẫu mực về thể tài vịnh sử" và tác giả của tập thơ là "một tài năng thi ca đích thực"...

Thơ vịnh sử Đặng Minh Khiêm được nhiều người truyền tụng nên hiện trong kho thư tịch có nhiều truyền bản khác nhau. Bản in VHv.1506 là do nhà in Trị Văn đường tàng bản. Trong bài tựa đầu sách, Đặng Minh Khiêm có nói rõ: "Ta vào giữ chức vụ ở Sử quán từng có ý thuật cổ. Hiềm vì những thư tịch tàng trữ ở bí thư, trải bao phen binh lửa thành ra sách vở bị tàn khuyết khá nhiều. Được thấy toàn tập chỉ có Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký của Phan Phu Tiên, Việt điện u linh tập lục của Lý Tế Xuyên, Lĩnh Nam chích quái lục của Trần Thế Pháp mà thôi. Dưới sự ghi chép của những tác phẩm ấy, mở ra mà duyệt đọc, tàng trữ mà khảo cứu và dựa theo đó mà ca vịnh, ngày qua tháng lại tích lũy được một số bài góp thành toàn tập, chia thành ba quyển". Thế nhưng trong văn bản lại thấy có nhiều sai sót đáng ngờ. Ví dụ:

Ở mục Nữ vương, bài tiểu truyện về Chiêu Thánh công chúa thì nhầm là: Lý Chiêu Hoàng "... phương thập bát tuế kiến Trần Nhật Cảnh nhập thị nhi duyệt chi" (Lý Chiêu Hoàng "... vừa mười tám tuổi thấy Trần Nhật Cảnh vào hầu liền yêu”). Liệu có thể Đặng Minh Khiêm nhầm từ 8 tuổi sang 18 tuổi, từ Trần Cảnh sang Trần Nhật Cảnh ?

Ở mục Hậu phi, bài tiểu truyện về Lệ Thánh Hoàng hậu thì phần tiểu truyện nhầm: Lệ Thánh Hoàng hậu không phải là mẹ Trần Nhân Tông mà bà là người đời sau, là con gái Huệ Vũ Vương Trần Quốc Chẩn, tháng 12 năm 1323 được sách phong Lệ Thánh Hoàng hậu. Hơn nữa sự việc Lệ Thánh Hoàng hậu hai lần che chắn cho vua thoát khổi bị hổ và voi làm hại thì trong sử sách không thấy ghi. Trong Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ, Quyển VI, trang 109) và Khâm định Việt sử thông giám cương mục (trang 593) lại ghi rõ người đàn bà dũng cảm quên mình cứu vua là Bảo Thánh Hoàng hậu vợ vua Trần Nhân Tông, sau được sách phong là Khâm Từ Bảo Thánh Hoàng Thái hậu.

Ở mục Tông thất, bài tiểu truyện về Lý Hoảng thì trong các sách sử không thấy chỗ nào ghi vua Lý Thái Tông có con là Lý Hoảng (李晃 ) mà chỉ có con là Lý Nhật Quang (李日光). Bản in đã in nhập 2 chữ nhật (日) và quang (光) làm một nên mới có sự nhầm lẫn thành Hoảng (晃).

Qua mấy ví dụ trên chúng tôi sơ bộ cho rằng bản in VHv.1506 đã được nhà in Trị Văn đường in lại từ một bản có trước đó. Bản này cũng còn khá nhiều dị văn so với các bản khác nữa, chúng tôi sẽ trở lại vấn đề văn bản kỹ hơn trong một dịp khác. Trong kho sách Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm thấy có các truyền bản Vịnh sử thi tập như sau:

1. Trong Toàn Việt thi lục, của Lê quý Đôn, bản chép tay, ký hiệu A.1262/5, quyển 15.

2. Thoát Hiên vịnh sử thi tập, bản chép tay ký hiệu A.440.

3. Thoát Hiên tiên sinh vịnh sử thi tập, ký hiệu VHc.1422, bản chép tay, chỉ có phần thơ vịnh, không có phần tiểu truyện.

4. Trong Hoàng Việt thi tuyển của Bùi Huy Bích có 15 bài, có nhiều bản in ký hiệu VHv.1451, VHv.1780, A.608,...

5. Trong Bắc sứ Giang Ẩn Phu Mậu Phủ nguyên cảo, ký hiệu A.2454.

6. Trong Sử biên truy vịnh, ký hiệu VHv.1776.

7. Trong Việt sử diễn âm, ký hiệu AB.110, có 39 bài.

Ngoài ra thơ vịnh sử của Đặng Minh Khiêm vẫn còn rải rác ở nhiều nơi khác nữa như gia phả, đền miếu, bia... Qua quá trình truyền bản, thơ vịnh sử của Đặng Minh Khiêm có nhiều dị bản và các vấn đề về văn bản cần phải bàn. Chúng tôi xin trở lại vấn đề này trong một dịp khác.

Tập thơ Vịnh sử thi tập của Đặng Minh Khiêm mới chỉ được giới thiệu 50 bài trong Tổng tập văn học Việt Nam(Nxb. KHXH, H. 1978 và tái bản năm 2000) và 41 bài trong Tinh tuyển văn học Việt Nam (Nxb. KHXH, H. 2004) và 39 bài trong Việt sử diễn âm (Nxb. Văn hóa - Thông tin, 1997). Như vậy, mới chỉ giới thiệu được khoảng trên 1/3 số bài thơ vịnh sử của Đặng Minh Khiêm.

Với một tập thơ vịnh sử xuất hiện sớm nhất, làm khuôn mẫu cho thơ vịnh sử đời sau, có giá trị cả về văn học và sử học của một tài bút như Đặng Minh Khiêm rất cần được khảo cứu, dịch và giới thiệu với người đọc một cách toàn diện./.

Thông báo Hán Nôm học 2005 (tr.485-491)

Danh sách mới hơn