Trang chủVăn thơBần nữ thán

Bần nữ thán

Thứ Sáu, 14/03/2014

Bần   Nữ   Thán 
(LỜI THAN CỦA CÔ GÁI NGHÈO)

                                                                  Đặng Huy Tá tự Lương Hiên


Kiếp phù thế nhân sinh thấm thoát (1) 
Vì chữ bần nên ngắt chữ duyên. 
Ai làm số phận xui nên, 
Há thua sắc thắm há hèn màu tươi? 
Con tạo hóa trêu người chi tá, 
Đem sắc tài thu cả vào khuôn. 
Hiên tây thấp thoáng trăng suông (2) 
Gió vàng hiu hắt như tuôn mạch sầu (3) 
Niềm tâm sự thấp cao mọi nỗi, 
Tình cảnh này biết nói cùng ai! 
Chống tay ngồi ngẫm sự đời, 
Bực mình mà gửi mọi nhời vân vân.

* 
*     * 
Nghĩ mình cũng dự phần son phấn 
Cũng dự phần ngọc trắng gương trong, 
Cũng môi son cũng má hồng, 
Cũng mầu thi lễ cũng dòng trâm anh (4) 
Cũng chải chuốt mầu xanh vẻ quý, 
Cũng não nùng trâm rẽ hương xông, 
Cũng hay nữ hạnh, nữ công, 
Nữ ngôn dung lịch, nữ dung cũng mầu. (5) 
Vẻ quyền quý phong lưu cũng thuộc, 
Nết đoan trang trinh thục cũng ưa, (6) 
Ở ăn nền nếp sau xưa, 
Dám sai phận gái mà thua nếp nhà. 
Việc canh cửi tay đưa chân dận, 
Đường dệt thêu bướm lượn ong đôi, 
So xem quốc sắc nữ tài, 
Đã trong giáo huấn, lại ngoài Nam phong. (7) 
Khi nối gót kiếm cung kỵ xạ, 
Khi theo đòi kinh sử thi thư, 
Khi lựa vận, khi so tơ, (8) 
Khi bầu Lý Bạch, khi cờ Trương Ba (9) 
Dẫu chẳng phải ngọc ngà mà kỳ dị, 
Nhưng cũng trong ý nhị thanh tân. (10) 
Những mong vườn hạnh gặp tuần, (11) 
Gieo cầu đúng dịp, nhắc cân đương vừa. (12) 
Tuy chưa chắc cung phi hoàng hậu, 
Thời cũng rành mệnh phụ phu nhân, (13) 
Hoặc là tài tử giai nhân, (14) 
Thời công sửa túi nâng khăn cũng đành. 
May mà gặp khoa danh khôi giáp, (15) 
Cũng bõ công đánh sáp soi gương, 
Những công trang điểm sửa sang, 
Dẫu treo thước ngọc, nhà vàng cũng nên. (16) 
Tưởng không nổi giận duyên tủi phận, 
Tưởng không điều nhạt phấn phai son. 
Một hai tính cuộc vuông tròn (17) 
Đào còn đương thắm, liễu còn đương tơ (18)

* 
*     * 
Ngẫm duyên phận ai ngờ nên nỗi, 
Nghĩ nguồn cơn dở dói thêm càng. 
Vì đâu nên nỗi dở dang? (19) 
Nói càng thêm giận nghĩ càng thêm thương! 
Con tạo hóa đa đoan lắm nhỉ, 
Cái tiện nghi chẳng sẻ cho cân. (20) 
Giàu thì trọn vẹn mười phân, 
Khó không cho một vài phân mấy người. 
Tay nguyệt lão trêu người chi mấy (21) 
Cầm lấy dây giữ mãi thế mà, 
Giầu thì nãy mực đương vừa, 
Khó thì để mãi trơ trơ sao đành? 
Chị Hằng lại đành hanh chi mấy? 
Quyết dang tay giữ mãi khăng khăng, 
Cầm cân chẳng nhắc cho bằng, 
Giàu thì nhắc đến, khó hằng chịu trơ. 
Trách người thế mập mờ có một, 
Bỏ vàng mười mà chuốc thau ba! (22) 
Trách thay người ấy mập mờ, 
Chơi non chẳng biết rằng là non thanh. 
Trách người thế vô tình lắm lắm, 
Cảnh thanh kỳ bỏ vắng chẳng chơi (23) 
Trách thay người thế mà sai, 
Chỉ tham bông thắm nở hoài không thơm. (24) 
Tưởng thế sự ai làm nên nỗi, 
Nghĩ càng thêm tức tối trăm chiều. 
Hay là số phận làm sao? 
Xui ra duyên phận hẩm hiu thế mà. 
Hay là kém da ngà mắt phượng, 
Hóa cho nên bướm chán ong chê. 
Hay là nắng chẳng thương huê (25) 
Để đầu bông thắm để se nhị vàng. 
Hay là kém màu gương nước thủy, (26) 
Hay là thua màu quý vẻ thanh, 
Hay là thua đẹp thua xinh, 
Thua son, thua phấn, thua tình, thua duyên? 
Chỉ một nỗi thua tiền, thua bạc, 
Hóa cho nên thua sắc, thua tài. 
So ra ai đã thua ai? 
Kẻ kia tám lạng, kẻ này nửa cân. 
Vốn đã biết làm thân kẻ khó, 
Có dám đâu sánh đọ với giàu, 
Rằng thì mang tủi, đeo sầu, 
Nói càng ấp úng, nghĩ thêm ngại lời. 
* 
*      * 
Xuân xanh kể đôi mươi có lẻ, 
Quả mai còn ba bảy đường tơ (27) 
Kìa đông bích, lân gia, (28) 
Kẻ đã bốc phượng, người đà mộng lan (29) (30) 
Cũng mang tiếng hồng nhan mấy thế, 
Nỡ nào nên ruồng rẫy chẳng thương! 
Bao nhiêu thêu dệt y thường, (31) 
Vì người, ta sửa y trang lấy chồng. 
Cũng mang tiếng má hồng mặt phấn, 
Luống năm, năm chực phận phòng không. (32) 
Há rằng hoa chẳng chiều ong, 
Cho nên tủi phận thẹn hồng lắm thay! 
Bắc thang lên cung mây mà hỏi, 
Biết bao giờ phượng tới cành ngô? (33) 
Bao giờ bắc lại cầu Ô (34) 
Mà cho ả Chức, chàng Ngâu tới gần? 
Tình rầu rĩ thôi xuân lại hạ, 
Cảnh xuất nhiên thu quá đông hoàn, (35) 
Rắp toan hỏi nguyệt than hoa, 
Nguyệt trong mây tối, hoa đà ủ bông. 
Giải phiền rắp so dây mượn chén, (36) 
Đàn chùng dây, rượu bén hơi men, 
Lựa vần nghĩ cuộc giải phiền, 
Cờ tiên bí nước, thơ tiên túng vần. 
Đêm thanh những âm thầm với bóng, 
Mặt âm thầm bóng lại ủ ê. 
Buồn trông gương sớm đèn khuya, 
Gương mờ nước thủy, đèn loe lửa phiền. 
Buồn trông cảnh, cảnh xiên bóng ác (37) 
Buồn trông trăng, trăng gác non tây, 
Buồn trông ngọn cỏ lá cây, 
Thanh hoàng theo ngọn gió bay tơi bời! (38) 
Buồn trông tranh, thẹn người tố nữ, (39) 
Buồn trông thơ, tủi chữ thanh xuân, (40) 
Buồn trông mây kéo dần dần, 
Như tuôn khói lửa, như vần khí thiêng! 
Trông non tây đã xiên lỗ chỗ, 
Trông bể đông sóng vỗ lung tung, 
Lại càng như nấu như nung, 
Như hun, như đốt càng nồng càng mê! 
Trông ngàn bắc so le ngọn cỏ, 
Trông bể nam nhấp nhố thuyền câu, 
Lại càng như dệt, như thêu, 
Như vò như cuộn, càng trêu, càng buồn! 
Nghe oanh vàng von von gióng giả, 
Nghe cuốc hè ra rả giọng kêu, 
Lại càng ngơ ngẩn lao đao, 
Lại càng tâm tức tâm bào lắm nao! (41) 
Nghe đêm thu ve sầu ri rỉ, 
Nghe đêm đông giọng dế nỉ non, 
Lại càng rầu rĩ bồn chồn, 
Lại càng tức tối gan vàng chẳng xong! 
Buồn muốn nói, nghĩ không nên nói, 
Buồn muốn trông, lệ lại chứa chan. 
Sắt cầm muốn lựa phím loan, (42) 
Giọng sầu ra rả cho đàn ngang cung! 
Buồn cầm quạt khi phong khi mở, (43) 
Ngâm thơ tình, tình nhớ tình thương. 
Thương vì phận, xót vì duyên, 
Chẳng ngờ phận khó hóa nên nỗi bần! 
* 
*     * 
Càng nghĩ lắm tâm hồn tức tối, 
Nghĩ nguồn cơn nông nỗi càng đau! 
Chẳng qua kẻ trước người sau, 
Thôi thì ta sẽ bán sầu làm vui. 
Lọ là phải bàn may bàn rủi, 
Lọ là nên kể tủi kể sầu! 
Ai ơi! xin chớ cười nhau! 
Chẳng qua mai trước, hạnh sau khác gì. (44) 
Mai nở trước, mai cười hạnh muộn, 
Hạnh nở sau, hạnh ngán mai suy. 
Hạnh, mai cười lẫn nhau chi, 
Đến kỳ kết quả, đến kỳ khai hoa. 
Kìa trai già có khi nở ngọc, (45) 
Nọ trúc đồng, có lúc nở măng. 
Kìa thì nước, nọ thì trăng, 
Trăng thường tròn khuyết, nước hằng đầy vơi. 
Đêm thì có khi dài khi ngắn, 
Thời tiết trời khi nắng khi mưa. 
Năm có khi thiếu, khi thừa, 
Ngày có khi sớm, khi trưa khác nào. 
Có đâu lại gieo đào, trả lý, (46) 
Có đâu mà nhắn cá, gửi chim. (47) 
Miễn cho chí ở cho bền, 
Chẳng lo phận khó, chẳng phiền muộn duyên. 
Kim, Kiều trước kết duyên mấy độ, 
Phan, Trần kia gắn bó bao lâu, (48) 
ấy là sớm đã gặp nhau, 
mà còn cách trở lâu lâu xum vầy. (49) 
kim cúc nọ sương bay mới nở, 
kinh tùng kia tuyết vô lại xanh. (50) 
Kìa xem tuyết muộn càng xinh, 
Có khi cũng gặp duyên lành như ai. 
Hễ hãy còn mày ngài, mắt phượng, (51) 
Hễ hãy còn má phấn, môi son, 
Còn đời, còn nước, còn non, 
Hãy còn cát sĩ, hãy còn cát nhân. (52) 
Thôi thời thôi vườn xuân chực khóa, 
Giận những loài nhạn cá ỏi tai! (53) 
Thôi thời vườn khóa then cài, 
Lấp dòng lá thắm ngăn loài chim xanh. (54) 
Nỡ nào để hồng ngâm chuột vọc, 
Nỡ nào đem hạt ngọc ngâu vầy? (55) 
Quyết gan chờ kẻ cân đai, (56) 
Sớm trưa chẳng phó mặc nơi thanh hoàng. (57) 
Ngựa Long Tôn gặp chàng Bá Nhạc, (58) 
Ngọc Kinh Sơn gặp được Biên Hòa, (59) 
Nước non kia vẫn chẳng già, 
Nhân duyên kia định cũng đà có nơi. 
Còn hàn vi, biết ai hay dở, 
Trải phong trần mới rõ khá hèn. 
Hễ là phận đến thì nên, 
Giàu sang cũng có, nhân duyên cũng mầu. 
Phượng chắp cánh hầu còn đợi gió, (60) 
Rồng sinh răng cũng độ lên mây. 
Trăm năm há phải một ngày, 
Ôm cầm lựa khúc, so dây cho vừa. (61) 
Nên kết tóc xe tơ cho phải, (62) 
Đáng văn nhân tài tử mới trao. 
Ngọc lành còn đợi giá cao, (63) 
Rồng còn uốn khúc, ở ao đợi thì. (64) 
* 
*     * 
Muộn thì muộn, muộn thì càng chắc, 
Nghèo đành nghèo, nghèo chẳng lụy ai. 
Giận duyên nói bấy nhiêu lời, 
Ai khen cũng mặc, ai cười mặc ai.

 

                                                                            

1 Phù thế: cuộc đời trôi nổi không định. 
2 Hiên tây: mái hiên ở phía tây, nơi người con gái, con trai hẹn hò. 
3 Gió vàng: gió mùa thu. 
4 Dòng trâm anh: dòng dõi con nhà quyền quý. 
5 Công dung ngôn hạnh: bốn đức tính của người con gái – Công: giỏi giang việc nhà – Dung: có nhan sắc –Ngôn: ăn nói lịch thiệp, dịu dàng – Hạnh: đức hạnh đáng khen. 
6 Trinh thục: người con gái chưa lấy chồng chính đính dịu dàng. 
7 Lại ngoài Nam Phong: ra ngoài lại giữ phong cách nước Nam. 
8 Lựa vận so tơ: tìm vần thơ, đo dây đàn cho hòa âm với nhau. 
9 Lý Bạch: nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc thích uống rượu ngâm thơ. 
10.Trương Ba: một người giỏi cờ, đồ đệ của Đế Thích. 
11.Ý nhị thanh tân: như bông hoa vẫn giữ nhị còn nguyên vẹn chưa con ong nào bay đến. 
12.Vườn hạnh: hạnh uyển, nơi vua thết tiệc yến cho các vị tiến sĩ. Ý nói mong gặp được người đỗ đạt cao. 
13.Gieo cầu: theo điển vua Hán Vũ để kén phò mã cho công chúa ngồi trên lầu ném quả cầu xuống cho con trai các quan ở dưới, ai cướp được quả cầu thì được vua kén cho lấy công chúa. Ý nói chọn người chồng xứng đáng. 
14.Mệnh phụ phu nhân: vợ quan to. 
15.Tài tử: người con trai có tài. Giai nhân: người con gái đẹp. Ý nói xứng đôi. 
16.Khoa danh khôi giáp: người đỗ đầu kỳ thi. 
17.Thước ngọc nhà vàng: chỉ người quyền quý sang trọng. 
18.Cuộc vuông tròn: sự kết duyên sum họp đẹp đẽ. 
19.Đào, Liễu: chỉ người con gái còn nhan sắc như hoa đào mới nở, như cây liễu còn non. 
20.Dở dang: gặp điều trở ngại, không trọn vẹn. 
21.Cái tiện nghi: cái lẽ công bằng đúng lẽ trời. 
22.Nguyệt lão…. Cầm lấy dây: Theo sách “Tục ư quái Lục”. Vi cố đời Đường nhân đi chơi gặp một ông già ngồi dưới bóng trăng đang kiểm sổ sách, mang theo một cuộn dây đỏ. Vi cố hỏi, ông đáp: đây là cuốn sổ hôn nhân và cuộn dây buộc chân nam nữ. Dẫu gia đình hai bên có thù hằn, hoặc ở cách xa nhau, đã lấy dây đỏ buộc chân nam nữ ắt sẽ thành vợ chồng. Tục xưa, khi cưới thường làm lễ tơ hồng, tức là tế Nguyệt lão xe dây đỏ. 
23.Thau ba: tức thau loại kém vật chất. 
24.Thanh kỳ: cảnh đẹp đẽ thanh cao hiếm có. 
25.Nỡ hoài: nỡ bỏ hoài, bỏ phí. 
26.Huê: hoa. 
27.Nước thủy: nước thủy ngân tráng cho gương sáng lên. 
18.Quả mai còn ba bảy đường tơ: trong bảy quả mai thì ba quả đang độ có thể hái được, ý nói người con gái đẹp đã đến tuổi lấy chồng. 
19.Đông bích lân gia: nhà láng giềng ở phía đông tường. Do câu thơ của Tống Ngọc: Người đẹp ở làng tôi không ai bằng người con gái nhà láng giềng ở phía đông tường. Ý nói người con gái đẹp. 
20. Bốc phượng: bói phượng. Theo Tả truyện, Ý Thị là quan đại phu nước Tề muốn gả con gái cho Trần Kính Trọng, bói một quẻ thấy chim phượng và chim hoàng cùng bay. 
21. Mộng lan: vợ Trịnh Văn Công nằm mộng thấy sứ nhà trời mang cho cành hoa lan, sau có thai sinh được người con trai và đặt tên là Lan, sau làm Vua. 
22. Y thường: áo và xiêm. 
23. Chực: chờ đợi và mong mỏi. 
24. Phượng tới cành ngô: chim phượng tới đậu cành cây ngô đồng, ý nói bao giờ có người yêu. 
25. Cầu ô: cầu ô thước. Theo thần thoại Trung Quốc, chim quạ (ô) và chim khách (thước) khuân đá lấp sông Ngân hà tạo nên chiếc cầu cho Chức nữ qua gặp Ngưu lang vào đêm 7 tháng 7. 
26.Thu quá, đông hoàn: mùa thu qua, mùa đông trở lại. 
27.So dây mượn chén: so dây đàn để gảy, uống rượu cho quên nỗi buồn. 
28. Xiên bóng ác: bóng con quạ để tỷ dụ mặt trời đã ngã về chiều. 
29. Thanh hoàng: màu xanh, màu vàng, cỏ cây đã từ màu xanh ngả sang màu vàng, biến đổi với thời gian. 
30. Tố nữ: người con gái đẹp, nữ thần của sắc đẹp. 
31. Thanh xuân: tuổi trẻ. 
32. Tâm bào: lòng buồn như có ai bào ruột gan. 
33. Sắt cầm: đàn sắt, đàn cầm, hai thứ đàn hòa hợp. 
34 Phong: gập lại. 
35.Mai, hạnh: cây mai, cây mận, chỉ những người con gái đẹp. 
36.Trai già nở ngọc: con trai dưới biển nhiều năm sinh ra ngọc quý, ý nói muộn mằn nhưng sẽ sinh được con hiếu. 
37.Gieo đào trả lý: do câu “đầu ngã dĩ đào, báo chi dĩ lý”, ném cho ta quả đào, ta biếu lại quả mận, ý nói quan hệ nam nữ có tính toán vụ lợi, không phải vì trọng tài, trọng sắc. 
38.Nhắn cá, gửi chim: bỏ thư vào bụng cá, buộc thư vào chân chim để trao đổi thư từ. Ý nói quan hệ thư từ tình ái không chính đáng. 
39.Phan, Trần: hai nhân vật trong truyện dân gian. Họ Phan và họ Trần đã hứa gả con gái cho nhau, nhưng sau ông bố họ Trần chết, người con gái đi tu và cuộc hôn nhân không thành. 
40.Lâu lâu xum vầy: lâu rồi mà không được xum vầy. 
41. Kim cúc, kinh tùng: hoa kim cúc, cây tùng già to lớn.