Trang chủVăn thơĐức tính dũng trong thơ văn Đặng Huy Trứ

Đức tính dũng trong thơ văn Đặng Huy Trứ

Thứ Sáu, 14/03/2014

Đặng Huy Trứ đã thực hiện được đức Dũng trong thơ và cuộc sống. Đời ông là tấm gương sáng của một trí thức biết làm chủ bản thân, kiên quyết thực hiện hoài bão lớn: giữ tâm hồn thanh khiết, sống vì nước vì dân, tự gắn mình với vận mệnh của đất nước, của dân tộc.

Tảo Trang, Tạp chí Hán Nôm số 2/1997

Đức tính dũng trong đạo Nho

Nói tới tư cách người quân tử, người ta thường nghĩ đến ba đức tính chủ yếu đã được Khổng Tử nhắc tới hai lần trong sách Luận ngữ. Ở sách này, chương Tử hãn 28, ông nói : “Người có trí không mê hoặc, người có nhân không lo âu, người có dũng không sợ sệt” (trí giả bất hoặc, nhân giả bất ưu, dũng giả bất cụ). Ở chương Hiến vấn 30, ông nói rõ hơn và tự liên hệ : “Đạo quân tử gồm ba đức tính, ta chưa có được: có nhân không lo âu, có trí không mê hoặc, có dũng không sợ sệt” (Quân tử đạo giả tam, ngã vô năng yên: nhân giả bất ưu, trí giả bất hoặc, dũng giả bất cụ). Như vậy ở cả hai câu, Khổng Tử đều nhắc tới ba đức tính chủ yếu của người quân tử, duy vị trí giữa “nhân” và “trí” có khác nhau, câu trên ghi “trí nhân dũng”, câu sau ghi “nhân trí dũng”. Theo ý kiến của nhà chú giải, câu trên nhấn mạnh đến quá trình tu dưỡng : có trí sáng suốt để tỏ rõ đạo lý nên không mê hoặc, đạo lý đủ để thắng tình ý riêng tư nên không lo âu; khí đủ mạnh để tự gắn mình với đạo nghĩa, nên không sợ sệt. Còn câu sau “nhân” trên “trí”, vì chú ý đến bậc quan trọng của việc tu dưỡng : muốn hoàn thiện đức hạnh phải lấy “nhân” làm đầu, muốn học tập tiến bộ phải lấy “trí” làm đầu, lòng nhân ái được đặt trên tri thức vì đó là nền tảng đạo đức con người. Cả hai câu đều đặt “dũng” ở hàng thứ ba sau rốt. ở người quân tử, “dũng” phải gắn liền với “nhân” và “trí”, nếu đứng một mình thì chưa đủ. Vì “người có lòng nhân tất có dũng khí, kẻ có dũng khí chưa hẳn có lòng nhân” (Nhân giả tất dũng, dũng giả bất tất hữu nhân - Luận ngữ, Hiến vấn 5). Người thực sự có lòng nhân sẽ đủ sức vượt mọi khó khăn, miễn đem được lợi ích cho người, nên trong lòng nhân bao hàm của dũng khí. Còn nếu chỉ có dũng khí, thiếu lòng nhân thì chỉ là hành động do tính khí bồng bột, có thể trái với lòng nhân hay thiếu sáng suốt.

Tuy nhiên, dù như vậy “dũng” vẫn cũng không kém phần quan trọng. Khi Tử Lộ hỏi thế nào là người hoàn hảo (thành nhân) thì Khổng Tử trả lời : “Đem cái trí của Tăng Vũ Trọng, cái tâm dứt bỏ mọi tham dục của Công Xước, cái dũng của người họ Trang nước Biện, tài nghệ của Nhiễm Cầu (bốn người nổi tiếng đương thời), lại được lễ nhạc làm đẹp thêm, như vậy có thể coi là người hoàn hảo”. Nhưng liền đó, ông lại nói : “Người hoàn hảo hiện nay hà tất phải được như vậy ? Thấy lợi mà nghĩ tới điều nghĩa, thấy nguy nan mà sẵn sàng trao mạng sống, suốt đời không quên lời ước hẹn cũ thuở bình sinh, như vậy cũng đáng là người hoàn hảo" (Nhược Tăng Vũ Trọng chi trí, Công Xước chi bất dục, Biện Trang Tử chi dũng, Nhiễm Cầu chi nghệ, văn chi dĩ lễ nhạc, khả dĩ vi thành nhân hĩ. Viết : Kim chi thành nhân giả hà tất nhiên. Kiến lợi tư nghĩa, kiến nguy thụ mệnh, cửu yếu bất vong bình sinh chi ngôn, diệc khả dĩ vi thành nhân hĩ) (Luận ngữ, Hiến vấn 13). Thấy lợi thì nghĩ ngay đến nghĩa, thấy gian nguy thì sẵn sàng trao mạng sống, đó chính là “dũng” và như vậy mới đáng gọi là người hoàn hảo. Thực ra, nếu không có dũng, không thể thắng phần yếu hèn trong tâm hồn, không có dũng thì nhân và trí không hoàn chỉnh vì không thể hiện bằng việc làm cụ thể. Ngược lại, chỉ khi nào kết được với nhân và trí, dũng mới thật chân chính, vì không phải là chuyện lao mình thiếu suy nghĩ vào việc thoả mãn những dục vọng tầm thường, mà là sức mạnh kiên nghị thực hiện những ý tưởng cao đẹp.

Dũng khí trong đời và văn thơ Đặng Huy Trứ

Thấm nhuần nền giáo dục của gia đình theo đạo Nho, có thể nói Đặng Huy Trứ đã lấy “nhân trí dũng” làm phương châm cho đời sống. Riêng về mặt “dũng”, ông đã tỏ ra kiên nghị phi thường trong mọi hoàn cảnh. Từ buổi thanh xuân, ông đã bị vấp váp nặng nề trong thi cử chỉ vì mấy chữ phạm huý mà bị đánh đòn, cách cả chân Cử nhân và Tiến sĩ. Trong đời làm quan, vì mạnh dạn tố giác hành vi sai trái của kẻ đương quyền mà bị trả thù, chuyển đổi công tác. Ra công tác nước ngoài, bị đau ốm triền miên, một mình nơi đất khách quê người. Mọi tai hoạ không làm yếu tâm hồn ông, lúc nào ông cũng lạc quan, hăng say trong công việc. Ông luôn làm chủ cuộc sống của mình, dù phải gian khổ khó khăn. Điển hình là việc lựa chọn bạn trăm năm. Gặp một người con gái không thuộc tầng lớp xã hội của mình, biết rõ rằng gia đình không khi nào chấp thuận việc đính hôn, nhưng nhận thấy người đó đức hạnh đảm đang, lại có ơn chăm nom mình khi hoạn nạn, ông đã không ngần ngại sống với người đó như vợ chồng, cho mãi 5 năm sau, khi đã có 2 con và tỏ rõ đức tính đảm đang hiền thục, vợ ông mới được công nhận là nàng dâu trưởng, được phép bước chân vào nhà thờ tổ tiên. Phải thật gan dạ mới dám đương đầu với tập tục trong một gia đình lễ giáo, chống lại những bậc cha chú mình vẫn kính yêu.

Dũng khí trong đời sống đã được đưa vào văn thơ Đặng Huy Trứ và văn thơ đầy dũng khí cũng có tác dụng trở lại : tạo thêm sức mạnh cho đời sống nhà thơ. Dũng khí trong thơ Đặng Huy Trứ thể hiện ở nhiều mặt, trước tiên về mặt chí hướng bình sinh.

Đặng Huy Trứ có chí lớn ngay từ hồi còn nhỏ. Phần “Tuyển thơ văn” trong sách Đặng Huy Trứ - Con người và tác phẩm(1) ghi bài thơ đầu tiên, sáng tác năm 1840, khi ông 15 tuổi “Hồ lý ngư” (Cá trong bình), có những câu :

Gia ngư hà xứ lai ? 
Thiên địa nhất tiểu hồ. 
Tuy vô bình tảo lạc, 
Chí dĩ tại giang hồ.
 
( ĐTH - tr.63) 
(Cá đẹp từ đâu tới ? 
Bình nhỏ chứa cả đất trời. 
Thú rong bèo tuy chưa hưởng, 
Chí đã tại sông hồ).

Dù hoàn cảnh khách quan không thuận lợi, bị nhốt trong bình nhỏ với cả bầu trời mặt đất thu gọn bên trong, tuy không có thú thả sức bơi giữa rong bèo, nhưng cá vẫn bình thản nuôi chí lớn như trong cảnh khoáng đãng hồ rộng sông dài. Tuy gặp nhiều trở ngại, nhưng vẫn quyết tâm vượt mọi gian khó, thực hiện chí hướng bình sinh. Hai câu cuối bài khiến nhớ lại mấy câu thơ của Hồ Chủ Tịch trong Ngục trung nhật ký. Ở ngay đề từ đầu sách, có hai câu :

Thân thể tại ngục trung 
Tinh thần tại ngục ngoại.
 
(Thân thể ở trong lao, 
Tinh thần ở ngoài lao).

Và ở bài “Vào nhà lao huyện Tĩnh Tây” :

Tình vũ phù vận phi khứ liễu, 
Ngục trung lưu trú tự do nhân.
 
(Mây mưa, mây tạnh bay đi hết 
Còn lại trong tù khách tự do)(2)

Chí lớn của Đặng Huy Trứ trong bài thơ trên, viết năm ông 15 tuổi, được thể hiện cụ thể trong bài thơ Hoa nhài. Hoa này có nhiều người không thích, coi như “không đứng đắn” vì nở và thơm chủ yếu về ban đêm, hoặc vì có tên là “mạt lợi”, đồng âm với “mạt lợi” là lợi nhỏ. Trong bài thơ dài 24 câu, Đặng Huy Trứ đã hết sức ca ngợi loại hoa này :

Ngã ái nhĩ hoa bạch, 
Ngã ái nhĩ hương thanh.
 
(Ta yêu nhài hoa trắng 
Ta yêu nhài hương thanh)

“Thanh bạch”, nghĩa từng chữ là “trong trắng”, không vẩn đục, không vết nhơ, còn “hương thanh” là thứ hương thơm thoảng nhẹ, đầy thích thú. Khen hoa thanh bạch, để tự nhắc nhở giữ tâm hồn thanh bạch, với lối sống trong sáng, liêm khiết, không bị vẩn đục vì những dục vọng thấp hèn. Chính vì thế mà đoạn sau có những câu :

Ngã ái nhĩ thanh bạch, 
Nhĩ kỳ âận nhiên vinh. 
Thanh bạch vĩnh bất cải, 
Vô thiểm nhĩ sở sinh.
 
(Ta yêu nhài trong trắng, 
Nhài hân hoan tốt tươi. 
Trong trắng mãi không dời, 
Không nhục các bậc sinh ra mình)(3) 
(ĐHT - tr. 202)

Sống thanh bạch, để “không nhục với các bậc sinh ra mình” (Vô thiểm nhĩ sở sinh), tức nhằm thực hiện đạo hiếu. Đây là một câu rút từ bài thơ Tiểu uyển trong Kinh Thi, phầnTiểu nhã : Túc hưng dạ mị, Vô thiểm nhĩ sở sinh (thức khuya dậy sớm. Không để nhục các bậc sinh ra mình). Đặng Huy Trứ cũng lại nhắc tới điển này trong bài họa thơ của họ Tưởng, Tuần phủ Quảng Đông :

Trung hiếu do lai nan lưỡng đắc, 
Sở sinh vô thiểm tắc vi hoan.
 
(Trung hiếu đôi đường, từ xưa khôn vẹn cả, 
Mẹ cha không nhục, ấy niềm vui)(4) 
( ĐHT - tr. 429)

“Trung hiếu đôi đường khôn vẹn cả” chắc ám chỉ hoàn cảnh lúc đó của tác giả, vì việc công (thực hiện đạo “trung”) phải xuất ngoại xa nhà, không thực hiện đủ đạo hiếu đối với cha mẹ. Đặng Huy Trứ rất coi trọng truyền thống gia đình. Ông từng viết Đặng Dịch Trai ngôn hành lục, ghi lại lời nói và việc làm của cha mình, nêu gương sáng cho con cháu, và Nhị Hoàng di ái lục nói về sự nghiệp của ông bác ruột là Đặng Văn Hoà (1791-1856).

Dũng khí trong thơ Đặng Huy Trứ được thể hiện ở chỗ dù gặp hoàn cảnh không ưng ý vẫn giữ được yên tĩnh của tâm hồn, rút ra được bài học bổ ích cho cuộc sống. Năm 1858, khi mới nhận chức Nhiếp biện ấn vụ tại phủ Quảng Hoá, thấy nơi tư thất tồi tàn, nhiều kẽ hở trống trải, ông đã ngẫu hứng làm bài thơ 4 câu :

Tường tự khích dư quan bạch nhật, 
Ốc tuỳ lậu xứ kiến thanh thiên. 
Ngô tâm tự hữu thần minh xã, 
Nhất điểm hư linh vạn cổ truyền.
 
(Tường có kẽ hở, trông thấy ánh sáng bên ngoài, 
Mái có lỗ hổng, nhìn thấy trời xanh. 
Lòng ta tự có chỗ cư ngụ của thần minh, 
Một điểm hư linh truyền muôn thuở). 
(Ngẫu ngâm ĐHT - tr.164)

“Thần minh” có thể hiểu hai nghĩa: “thần thánh” và “ánh sáng thần diệu", cho phép thấu suốt mọi lẽ huyền vi. “ Điểm hư linh” chỉ tâm hồn tác giả. “Hư” là trống rỗng, loại bỏ được mọi dục vọng vị kỷ tầm thường. “Linh” là “linh diệu”, có nhiều đức tính và sức mạnh tưởng như huyền bí. “Hư linh” chỉ tâm hồn thanh cao và cường kiện. Phải thật sáng suốt như có “thần minh” ngự trong lòng mới có được điểm hư linh ngời sáng muôn đời.

Năm 1859, khi làm Tri huyện Quảng Xương, tính thẳng thắn của ông không cho phép bọn cường hào lộng hành, bọn chúng đã viết thư nặc danh nói xấu, ông có bài thơ Văn báng(nghe lời sàm báng), mở đầu bằng hai câu :

Băng tâm nhất điểm tĩnh phong trần, 
Vô quý hà phương khán kính tần.
 
(Lòng băng tuyết không vẩn đục một vết nhỏ của gió bụi, 
Không có gì đáng hổ thẹn, ngại gì không luôn luôn soi gương). 
( ĐHT - tr.197)

Câu trên cho thấy tấm lòng trong trắng không một vết nhơ, dù là một chấm nhỏ của đời sống tầm thường. ở câu sau, “không điều gì đáng thẹn, không ngại luôn soi gương” “luôn soi gương” vì tự xét không gì bằng hổ thẹn, đồng thời cũng bao hàm ý luôn thường xuyên tu tỉnh để có được niềm tự hào trên. Trong bài cũng có câu Thanh bạch can tràng khả đối nhân (lòng trong trắng có thể đối mặt mọi người), lòng trong trắng mà ông Đặng Huy Trứ đã hết sức ca ngợi trong bài thơ vịnh hoa nhài, vừa nói ở trên.

Ông luôn luôn tự nhắc nhở : 
Thế lộ phi dung dị 
Tiền trình thân miễn chiên.
 
( Đường đời không dễ dàng, 
Thận trọng, cố gắng tiến lên phía trước.) 
(Tự thuật. ĐHT - Tr.180)

Một khía cạnh của dũng khí trong thơ Đặng Huy Trứ, là sự kiên định trong cuộc sống, luôn cố gắng vươn lên, tự hoàn chỉnh mình. Những bài tự răn trong tập ĐHT rất nhiều, có bài dài tới 72 câu (18 bài tứ tuyệt) như bài Quân tử bất tố xan (người quân tử không ăn không), làm năm 1858, đầu đề lấy ở một câu thơ trong Kinh Thi(5). Mười năm sau, khi bị ốm nằm ở Quảng Châu (Trung Quốc), ông đã làm 55 bài thơ tám câu 7 chữ Thanh ngọc trâm - khúc ngâm về trong và đục - để nói chí mình, tự răn mình và răn người khác. Một trong số bài đó có những câu :

Tổn kỷ ích dân nhân lạc phụ, 
Tuấn dân phì kỷ chúng hàm sân. 
Chúng sân nhân phụ giai do ngã, 
Duy hữu thanh thanh khả đối nhân
 
(Thiệt cho mình, ích cho dân, dân sẽ tin yêu, 
Đào khoét dân để cho mình no béo, dân sẽ ta thán. 
Dân ta thán hay tin yêu đều do mình, 
Chỉ có lòng trong trắng mới đối mặt được với mọi người) 
(Bản dịch ĐHT - tr. 470)

Bốn câu thơ trên cho thấy Đặng Huy Trứ luôn chăm lo giữ tâm hồn “thanh thanh” - trong sạch và thanh cao - nhưng cũng nhấn mạnh điều cần thiết phải tự mình biết “thiệt mình, lợi dân, khiến người yên vui, tin yêu mình”, kiên định trong việc tu thân, nhằm thực hiện tốt phận sự của mình đối với xã hội. Dũng khí trong thơ văn và trong đời ông được thể hiện ở tinh thần trách nhiệm cao đối với việc phục vụ lợi ích chung.

Dũng khi trong tinh thần trách nhiệm

“Kẻ có dũng không sợ sệt” (Dũng giả bất cụ). Không sợ mọi khó khăn nguy hiểm, miễn sao thực hiện đầy đủ nghĩa vụ. Đặng Huy Trứ đã xác định trách nhiệm của mình, một trí thức “không chịu ăn không (bất tố xan), chỉ mong giúp ích cho đời. Ông tự nhắc nhủ :

Ngô sinh hà hạnh đắc vi nhân, 
Vi nhân phục vi nam tử thân. 
Vi nam phục đắc vi vương thần(6), 
Khởi tự vi bố hữu quan thân.
 
(Ta sinh ra, may sao được làm người 
Làm người lại được thân phận con trai, 
Làm trai lại được là bề tôi của vua. 
Từ kẻ áo vải tầm thường, có được cân đai áo mũ). 
(Quân tử bất tố xan ĐHT - tr.167)(7).

Có điều đặc biệt là ngoài việc nói tới ân huệ triều đình, ông đã nghĩ tới công ơn của công dân, những người đã làm ra thóc gạo nuôi sống mình :

Triều đình khuyến sĩ hữu lẫm lộc, 
Thái thương lạp lạp giai châu ngọc. 
Thiên tân vạn khổ thuỷ đắc lai, 
Dân cao dân chi, bão ngô phúc.
 
(Triều đình khuyến khích kẻ sĩ bằng lương bổng lấy từ thóc gạo trong kho. 
Hạt hạt trong kho đều là châu ngọc. 
Ngàn cay vạn đắng mới có được. 
Dầu của dân, mỡ của dân, làm no bụng ta).

Và ông hạ quyết tâm :

Tu tri miễn miễn tận thần chức 
Túc dạ phỉ giải tư báo quốc 
(...) 
Thần chức năng tận tiện thị nhân, 
Thần chức bất tận bất như vật.
 
(Cần biết cố gắng trọn chức phận bề tôi, 
Sớm khuya không lơ là, lo báo đền ơn nước. 
(...) 
Chức phận bề tôi được trọn mới là người, 
Chức phận, bề tôi không trọn không bằng con vật).

Chính vì lúc nào cũng chăm chú làm đủ nhiệm vụ, mà Đặng Huy Trứ đã khước từ mọi cám dỗ. Tuyển tập đã ghi lại mấy sự kiện. Một đêm trăng ông đã khước từ ca nữ : “chưa nghe tiếng hát hay, đã che mặt (tân thanh vị xướng tiền già diện), tự ví mình như Lý Bạch tìm hoài cảm trong thú ngắm trăng (Lý Bạch hữu hoài duy đối nguyệt), hơn là tiếp cận nữ sắc. (Bài Đêm trăng khước từ ca nữ ĐHT -- tr.163). Có người đến yết kiến ông ở nhà riêng, ông đã kiên quyết không tiếp, tự xác định cho mình “Tấm lòng thanh cao như trời xanh, trong sáng như ban ngày, kết bạn cùng trăng thanh gió mát (Thanh thiên bạch nhật giai tâm sự, Minh nguyệt thanh phong hữu chủ tân). Và khi người này đã đi rồi, ông vẫn thấy căm giận, muốn “nhờ ai đó múc giúp nước sông Ngô (một con sông lớn ở tỉnh Giang Tô) rửa sạch bụi nhơ trên ghế hắn vừa ngồi (Bằng thuỳ vị cấp Tô Giang thuỷ, tẩy tận lại nhân kỷ thượng trần) (Đuổi kẻ đến nhà riêng, ĐHT - tr. 177).

Do tinh thần trách nhiệm cao ông đã tự động đứng ra làm những việc thấy cần, vì đem lại lợi ích cho dân, dù chưa có lệnh hay chưa có sự thoả thuận của cấp trên. Ông đã chủ động lập kho nghĩa thương, cổ động việc góp thóc góp tiền cứu giúp dân người nghèo vào năm đói kém, vì nhận thấy “mạng sống của dân dựa vào thóc gạo, công lao của người làm quan giỏi là chú ý đến dân nghèo hèn” (Sinh dân mệnh mạch duy hoà cốc, Lương thú công lao tại mục số)

(Nghĩa thương thành, ĐHT - tr.173)(8).

Năm 1857, ông làm Nhiếp biện ấn vụ phủ Hà Trung, tuy chức vụ chỉ là tạm quyền, ông đã liên tiếp trong hai tháng cho phá dỡ hai ngôi đền thờ nhảm tại xã Bình Lâm gần phủ lị. Mỗi lần như vậy, ông viết bài hịch để dân chúng hiểu biết và tuân theo. Bài hịch có những câu: “Nếu quả thông minh chính trực sao không giúp nước cứu dân. Có chi hoảng hốt thật hư, luống tự nhiễu người hại vật (ĐHT - tr. 157)(9).

Và ông tự xác định nhiệm vụ cai trị dân của mình :

Ta nay :

Thẹn mình đức mỏng, lạm nhậm châu này, 
Vâng chân truyền trăm thánh, làm đầu mục một phương. 
(...) 
Muốn yên người thiện, phải chặt gốc hung, 
(...) 
Dẫn đầu nha lại dân làng, huỷ miếu này, quét sạch tà ma, 
Lại cấm ngặt dân làng, không được thờ sằng như trước 
(ĐHT- tr.156)(9)

Một ông quan trẻ, mới tạm quyền thay quan đầu phủ, đã tỏ kiên quyết trong việc bài trừ mê tín, mưu lợi ích cho dân lành, là một gương dũng cảm hiếm thấy. Càng đáng khen vì đã ghi nghĩa cử trong hai bài văn, nêu bài học loại trừ tục mê tín dị đoan trong quần chúng.

Gặp năm mất mùa, dân đói hàng đoàn "chạy đông chạy tây" xin ăn, ông bèn cho dựng một quán nhỏ bên công đường, nấu cháo phát cho họ. Hành động này được ghi lại trong bài thơ Thí chúc (cho cháo), có 2 câu kết :

Chỉ thử đấu thăng tô hạc triệt, 
Bất hành phương tiện, mạc đương quan.
 
(Chỉ một đấu nước có thể khiến sống lại [con cá nằm ở vết xe khô] 
Không làm việc có ích cho người, thì đừng làm quan).

Câu trên điển tích ở sách Trang Tử (thiên Ngoại vật): chỉ cần đấu nước là có thể làm sống lại con cá nằm ở vết xe khô. Trong bài thơ "đấu thăng" còn có nghĩa là lương cấp cho các quan chức, cấp băng thóc gạo, được đong bằng đấu và thăng.

Đọc bài thơ ta có thể tự hỏi trong đám quan trường thời đó mấy ai đã chịu bỏ một phần lương để nấu cháo cứu dân nghèo bị đói, và mấy ai đã dám công bố bất hành phương tiện mạc đương quan ?

Bên cạnh trách nhiệm đối với dân còn có trách nhiệm đối với nước, đối với cục diện đất nước đương thời. Là một trí thức chân chính, Đặng Huy Trứ không thể thờ ơ trước vận mệnh của Tổ quốc đang bị giặc ngoài đánh chiếm. Và điều này đã phản ánh trong thơ, đó cũng là một khía cạnh dũng khí nữa trong thơ ông.

Một lòng vì đất nước trước họa xâm lăng

Một nhiệm vụ cấp bách đối với trí thức đương thời là nhận thức được hiểm hoạ giặc ngoại xâm : bọn đế quốc phương Tây, cụ thể là đế quốc Pháp, đang âm mưu đánh chiếm nước ta. Đặng Huy Trứ có thể coi như tiêu biểu cho giới trí thức chủ chiến thời đó. Ông đã sớm nhận thức được dã tâm của bọn tư bản, sức mạnh của bọn chúng, không thể lấy nhân nghĩa để thuyết phục. Năm 1859, ông đã vui sướng sưu tầm được cuốn Binh thư, đưa trình lên cấp trên, và tìm cả cách in ra để phổ biến trong giới quân sĩ. Ông cũng ý thức được rằng : sức mạnh gắn liền với sự hưng thịnh về mặt kinh tế, dân có giàu thì nước mới mạnh. Nguyễn Trường Tộ (1828 - 1871) đã có những bản điều trền đầy tâm huyết đẻ cải tạo quốc gia theo kịp văn minh phương Tây. Đặng Huy Trứ đi vào con đường thực hành. ôg được Tự Đức tin, cử sang Hương Cảng tham khảo kinh nghiệm, cho tổ chức Ty bình chuẩn để lo việc thông thương với nước ngoài, tăng thu nhập tài chính quốc gia. Đặng Huy Trứ tích cực làm mọi việc trên, đạt kết quả tốt. Nhưng phe chủ hoà đã thắng trong triều đình Huế. Các phủ huyện bị cấm không được mộ quân, chế tạo vũ khí, Ty bình chuẩn bị bãi bỏ. Ông chuyển từ kinh tế sang phục vụ quân sự, làm Bang biện quân vụ cho Hoàng Kế Viêm, Thống đốc quân vụ bốn tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên và Quảng Ninh. Lòng thiết tha đối với vận mệnh dân tộc đã ghi nhiều trong thơ ông. Đúng là dũng giả bất cụ, ông không như nhiều nhà nho đương thời sợ sức mạnh của súng đại bác Tây phương. Ông chủ chiến vì ông tin vào sức mạnh của dân tộc, của chính nghĩa. Năm 1860, nhân lên thăm Núi Voi ở Thọ Sơn, Thanh Hoá, một mảnh đất sản sinh ra nhiều võ tướng qua các triều đại, ông đã làm bài thơ có những câu thổ lộ mối lo âu đối với vận nước, và niềm tin ở sức mạnh của hùng khí "nhân kiệt địa linh" :

Khoáng dã vinh hồi sâm kiếm kích, 
Vi giang hoàn bão tráng phiên thành. 
Sơn linh trực dục phiên thận khởi, 
Tảo tận Tây Dương đáp thánh minh.
 
(Cánh đồng rộng bao quanh, tua tủa gươm giáo [hình ảnh những khóm tre, cây cao]. 
Dòng sông bao vây, tạo nên thành lũy hùng tráng. 
Thần núi muốn vùng đứng dậy, 
Quét sạch bọn Tây, đền đáp ơn vua thánh anh minh). 
(Đăng Tượng Sơn - ĐHT - tr.200).

Có lần được trà vua ban, ông cảm xúc làm thơ, tỏ lòng biết ơn, nhưng đồng thời cũng nhớ tới quân sĩ, đang chiến đấu chống Pháp ở trong Nam, không còn được biết mùi vị chén trà, mà đau xót hơn, do thái độ thoả hiệp của triều đình, không còn được chiến đấu, và vì không chịu sống dưới quyền bọn giặc, đã rời bỏ chốn cũ, mà trở thành dân "trốn Pháp" như dân "trốn nhà Tần" thuở xưa:

Tương thị quân trung vong mính vị, 
Kim triêu khước tác tị Tần dân).
 
(Nghĩ tới [bao người] trong quân, quên cả mùi vị trà, 
Sớm nay lại trở thành [như] dân trốn nhà Tần [thuở xưa]. 
(Đoan ngọ tứ trà cảm tác, ĐHT - tr. 232).

Trong bài thơ tặng bạn trị nhậm ở Hưng Hoá, tức gần sát địa đầu miền Bắc đất nước, nhắc bạn về nhiệm vụ nặng nề, nhà thơ không quên nhấn mạnh trách nhiệm chung đối với miền Nam, nơi đang có bọn "quỷ trắng" :

Vũ lộ hoàng ân năng kỷ báo ? 
Vân nghệ dư vọng chính phương huyền. 
Bằng quân cấp thủ Thao giang thuỷ, 
Tẩy tận Ngưu giang bạch quỷ chiên).
 
(Ơn mưa móc vua ban, đã báo đáp được bao nhiêu ? 
Dân đang mong [được hưởng phúc] như đợi cầu vồng đưa mưa tới). 
Nhờ bạn múc nước sông Thao, 
Rửa sạch hơi tanh hôi bọn quỷ trắng nơi sông Bến Nghé). 
(Tặng Tiến sĩ Nguyễn Chính, ĐHT - tr.236).

Năm 1863, trong bữa tiệc tiễn sứ bộ đi Pháp điều đình cho được chuộc lại 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ bị cắt cho Pháp, sau hàng ước Nhâm Tuất 1862, Đặng Huy Trứ khi hoạ bài thơ của Tự Đức làm trong tiệc với đầu đề Vọng sứ bộ như Tây giai tín (Mong tin vui sứ bộ đi Tây), đã viết ở 2 câu kết:

Chuyên đối tuỳ năng hàn tặc phủ(10), 
Phiến phàm quy sắc vọng trung giai. 

(Trong việc đối đáp, ai có thể khiến giặc kinh hãi ? (11) 
Mong có tin vui ở mầu sắc, cánh buồm trở về ). 
(ĐHT - tr. 251).

Trong phần chú thích ở cuối trang 251, sách ĐHT cho biết trong bữa tiệc, Tự Đức đã làm bài thơ dưới đầu đề trên, để các quan có mặt (trong đó có Đặng Huy Trứ ) họa, và "trong khi bàn luận, từ vua đến quan đều gọi Pháp là "quý quốc", nhưng Đặng Huy Trứ đã gọi thẳng là "giặc" (tặc).

Trong bài Trực ở Nội các, đòi thơ bạn Bùi Uẩn Trai, có 4 câu cuối :

Hoàng ma tử cáo phân thù tạc, 
Đạm nguyệt sơ tinh lại phẩm đề. 
Độc thị vô tài năng thoái lỗ, 
Hùng tâm khảng khái ngũ canh kê.
 
(Giấy gai vàng, tờ chiếu chỉ mầu tía, cùng nhau trao đổi rối bời, 
Ngại ngần ngâm vịnh cảnh trăng mờ sao thưa. 
Chỉ không có tài đánh đuổi quân giặc(11), 
Dạ anh hùng phấn khích khi nghe gà gáy canh năm). 
( ĐHT - tr. 239).

"Giấy gai vàng" tức giấy vỏ gai (ma chỉ), loại giấy tốt nhuộm vàng, dùng viết văn bản, triều đình. Trong hoàn cảnh trực ở Nội các đến sáng, dưới trăng mờ sao thưa, trao đổi về sắc chỉ triều đình rối bời, không thể nào thi thố được tài năng đuổi giặc, tuy hùng tâm vẫn thấy dấy lên mỗi khi nghe gà gáy canh năm.

Về sau, Đặng Huy Trứ đã chuyển sang ngành kinh tế thương mại, khi thành Hà Nội bị Pháp đánh chiếm năm 1873, ông đã theo Hoàng Kế Viêm Thống đốc Quân vụ căn cứ Đồng Vàng Chợ Bến, và năm sau đã mất tại đó, rất có thể do bệnh sốt rét ác tính ở vùng nổi tiếng là "nước độc" này. Có thể nói ông đã hy sinh nơi trận địa chống Pháp sau khi Hà Nội thất thủ lần thứ nhất. Cho đến phút cuối cùng, ông đã gắn bó đời mình với vận mệnh đất nước đang lâm nạn.


* *

Qua đời sống cũng như sự nghiệp văn thơ của Đặng Huy Trứ, người ta nhận thấy ở ông đã hội tụ đầy đủ đức tính Nhân, Trí, Dũng của người quân tử trong đạo Nho. Nhờ có dũng mà Nhân, Trí được thực thi và càng toả sáng. Ông đã tỏ ra kiên nghị phi thường trong việc giữ vững lòng thanh cao trong sáng ở mọi trường hợp, luôn tự nhắc nhở nhiệm vụ tu thân để an dân giúp nước, vượt mọi gian khó, làm chủ tình thế, để thực hiện chí hướng bình sinh. ít có nhân vật lịch sử nào, trong một cuộc sống không dài lắm - ông mất năm 49 tuổi - lại có được một cuộc đời vô cùng phong phú như ông. Tuy bị vấp váp trong thi cử cũng như trên họa đồ, mỗi lần không vừa ý, ông vẫn vươn lên mạnh mẽ. Hoạt động của ông thật đa dạng: văn học và giáo dục, chính trị và kinh tế,, văn hóa và quân sự, diễn ra cả trong và ngoài nước. Riêng về sáng tác văn học, ông đã có 1252 bài in trong Đặng Hoàng Trung thi sao, 266 bài văn xuôi trong Đặng Hoàng Trung văn sao, chưa kể sách biên soạn như Nhị Hoàng di ái lục, Từ thụ yếu quy. Ngaòi việc sáng tác, soạn thảo, ông còn để công lưu trữ, sắp xếp, tổ chức in ấn, có thể nói không có một nho sĩ nào trước đây tự đảm nhiệm được lượng công việc đồ sộ như vậy. Đặc Biệt trong sách ĐHT, qua hơn 300 bài thơ không thấy có sự biểu hiện nào của sự buồn nản mềm yếu, trách người oán đời, đức "dũng" thể hiện ở tinh thần lạc quan trong sáng là một yếu tố quan trọng của ông như vừa nói ở trên.

Đặng Huy Trứ đã thực hiện được đức Dũng trong thơ và cuộc sống. Đời ông là tấm gương sáng của một trí thức biết làm chủ bản thân, kiên quyết thực hiện hoài bão lớn: giữ tâm hồn thanh khiết, sống vì nước vì dân, tự gắn mình với vận mệnh của đất nước, của dân tộc.

 

CHÚ THÍCH

(1) Sách của nhóm Trà Lĩnh, Nxb. TP Hồ Chí Minh 1990. Trong bài viết này, sách được ghi tắt là ĐHT. Những câu trích dẫn ghi số trang trong dấu ngoặc là của sách trên.

(2) Suy nghĩ mới về nhật ký trong tù, Nxb. Giáo dục 1993, tr. 299 - 305.

(3) Sách ĐHT dịch “nhài chẳng thẹn đã sinh ra”. Nhưng câu này có điển, và “thiểm” không có nghĩa là “thẹn”.

(4) Sách ĐHT dịch : ở đời không phải thẹn gì là vui rồi. [xem lại chú thích (1)]

(5) Thơ Phạt đàn trong Kinh Thi Ngụy phong, phần Quốc phong.

(6) ĐHT - tr. 167 ghi ở câu 2 "Vi nhân phiu", câu 3 "Vi nam phiu", chúng tôi sửa thành "phục".

(7) ĐHT ct (3), trang 167, ghi Phạt đàn Quân tử, thiên Nguỵ phong trong Kinh Thi, sửa: thơ Phạt đàn trong Nguỵ phong. Trong bài có 2 câu: Bỉ quân tử hề, bất tố xan hề (Người quân tử kia, không ăn không (ăn mà không làm).

(8) ĐHT - tr.173 ghi lương thử và dịch 'mục sô' là 'chăn dân'. Đề nghị sửa 'lương thủ' thành 'lương thú', 'mục sô' đối với ''hoà cốc' ở câu trên, nên hiểu là 'người chăn dắt' (chăn dê, chăn bò...) và 'người cắt cỏ'; 'mục sô' chỉ người nghèo hèn.

(9) Bản dịch ĐHT (không chép kèm bản phiên âm chữ Hán như đối với các bài thơ trong sách. Nên đổi vị trí 2 bài hịch : bài 18 tháng 9 (tr.157) nên đặt lên tr.156, thay bài 16 tháng 10 (thời điểm muộn hơn) chuyển sang trang 157.

(10) ĐHT dịch "hàn tặc phủ" là làm nguội lạnh tim gan của giặc. Nhưng có thể hiểu "hàn phủ" cũng như "hàn tâm", với nghĩa "kinh hoàng, lo sợ".

(11) ĐHT dịch : "Chỉ không có tài làm bài thơ đuổi giặc"